Thuế GTGT 8% đến hết năm 2026: đọc đúng phạm vi giảm và các nhóm loại trừ

▶Mục lục bài viết

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 8% đến hết năm 2026 không áp dụng cho mọi hàng hóa, dịch vụ. Theo Nghị quyết 204/2025/QH15, các nhóm thuộc phạm vi thuế suất 10% được giảm 2 điểm phần trăm, còn 8%, trừ những nhóm bị loại trừ. Hai ngoại lệ cần đọc kỹ là than trong nhóm sản phẩm khai khoáng và xăng trong nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Mức 8% là chính sách có thời hạn

Quốc hội thông qua Nghị quyết 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng ngày 17/6/2025. Điều 2 xác định hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đến hết ngày 31/12/2026. Vì vậy, nói chính sách áp dụng trong năm 2026 là đúng, nhưng không nên hiểu đây là mức thuế suất được ấn định vĩnh viễn.

Cụm từ "đến hết ngày 31/12/2026" xác định điểm kết thúc của thời hạn trong văn bản. Bản thân quy định này không phải căn cứ để khẳng định việc giảm thuế tự động tiếp tục sang năm 2027. Khi trao đổi về chính sách, cần giữ đủ cả mức giảm, phạm vi hàng hóa, dịch vụ và thời gian áp dụng.

Bài viết tập trung giải thích phạm vi chính sách ở cấp nghị quyết, không hướng dẫn thủ tục thực hiện hay kết luận thuế suất cho từng mặt hàng cụ thể. Sự phân biệt này cần thiết vì một quy định nêu nhóm hàng hóa không đồng nghĩa với việc đã giải quyết mọi trường hợp phân loại trong kinh doanh.

Kế toán rà soát từng nhóm hàng và thông tin sản phẩm
Ảnh: FindLaw Asia

Giảm 2 điểm phần trăm không phải giảm 2% giá bán

Khoản 1 Điều 1 sử dụng cách diễn đạt "Giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng" và ghi rõ kết quả "còn 8%". Hiểu theo sự chuyển đổi thuế suất, đây là mức giảm từ 10% xuống 8%, tức giảm 2 điểm phần trăm. Không thể đọc thành phép giảm 2% của chính mức thuế suất 10%.

Đối tượng của chính sách là các nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi thuế suất 10% được quy định tại khoản này, sau khi xét các nhóm loại trừ. Do đó, việc một sản phẩm được mua bán phổ biến hoặc phục vụ nhu cầu thiết yếu không tự tạo ra quyền áp dụng mức 8%. Cũng không thể lấy chính sách này làm căn cứ chuyển mọi trường hợp đang có cách xử lý thuế khác sang 8%.

Thuế suất và giá người mua phải trả là hai vấn đề khác nhau. Quy định giảm thuế suất không phải lời bảo đảm rằng mọi giá bán cuối cùng đều giảm đúng 2%. Khi chưa xác định hàng hóa thuộc phạm vi được giảm và chưa biết các yếu tố của giá giao dịch, không nên đưa ra lời hứa về mức tiết kiệm cụ thể.

Các nhóm bị loại trừ được nêu như thế nào?

Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết 204/2025/QH15 nêu các nhóm không thuộc phạm vi giảm như sau:

  • Viễn thông.
  • Hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.
  • Kinh doanh bất động sản.
  • Sản phẩm kim loại.
  • Sản phẩm khai khoáng, trừ than.
  • Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ xăng.

Đây là các nhóm loại trừ khỏi chính sách giảm thuế đang được đề cập, không phải danh sách những nhóm được miễn thuế GTGT. Hai cách diễn đạt có hệ quả khác nhau: "không được giảm theo chính sách này" không có nghĩa là "không phải chịu thuế".

Cần giữ đúng tên nhóm khi giải thích. Chẳng hạn, văn bản nêu "sản phẩm kim loại", không phải mọi sản phẩm có một bộ phận làm bằng kim loại. Tương tự, việc nêu "kinh doanh bất động sản" không cho phép tự mở rộng thành mọi giao dịch có liên quan đến một công trình hoặc địa điểm. Những nhận xét này chỉ giúp tránh suy diễn từ tên gọi; chúng không thay thế kết luận phân loại pháp lý cho một hàng hóa hay dịch vụ thực tế.

Than là ngoại lệ trong nhóm sản phẩm khai khoáng

Cách viết "sản phẩm khai khoáng (trừ than)" có nghĩa than được loại ra khỏi nhóm loại trừ sản phẩm khai khoáng. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào lý do than là sản phẩm khai khoáng để kết luận than bị loại khỏi chính sách giảm thuế.

Ngoại lệ này cần được đọc cùng điều kiện về phạm vi thuế suất ở đầu khoản. Nó không biến mọi sản phẩm khai khoáng thành đối tượng được giảm, cũng không cho phép coi bất kỳ hàng hóa nào có liên quan đến than đều đương nhiên hưởng mức 8%. Văn bản nêu ngoại lệ cho than; bài viết không mở rộng ngoại lệ sang các sản phẩm khác.

Xăng là ngoại lệ, không phải toàn bộ nhiên liệu

Ở nhóm cuối, văn bản ghi "sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ xăng)". Theo cấu trúc này, xăng không bị loại khỏi chính sách chỉ vì thuộc nhóm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Đây là điểm dễ bị bỏ sót nếu chỉ nhớ phần đầu của nhóm loại trừ.

Tuy nhiên, từ "xăng" không thể tự thay bằng "mọi nhiên liệu" hoặc "mọi sản phẩm dầu khí". Ngoại lệ được ghi cụ thể đến đâu thì cần diễn giải đúng đến đó. Việc nhận diện một sản phẩm thực tế có thuộc ngoại lệ hay không vẫn cần căn cứ phân loại phù hợp, thay vì dựa vào tên thương mại hoặc công dụng được quảng cáo.

Đọc phạm vi chính sách trước khi kết luận cho một sản phẩm

Một cách đọc có ích là bắt đầu từ phạm vi thuế suất 10%, sau đó xem nhóm loại trừ và đọc đủ phần ngoại lệ đi kèm. Nếu bỏ bước đầu, người đọc dễ tưởng mức 8% áp dụng cho tất cả. Nếu bỏ phần trong ngoặc, người đọc lại có thể loại nhầm than hoặc xăng.

Điều 1 không liệt kê từng mã sản phẩm, từng tên hàng trên thị trường hay mọi dạng dịch vụ kết hợp. Khoản 2 Điều 1 giao Chính phủ quy định chi tiết khoản 1. Vì thế, nội dung ở cấp nghị quyết đủ để hiểu thiết kế chính sách, nhưng không nên được trình bày như một bảng phân loại hoàn chỉnh cho toàn bộ hoạt động kinh doanh.

Với một trường hợp chưa rõ, kết luận thận trọng là chưa đủ căn cứ phân loại, chứ không phải mặc nhiên được giảm hoặc mặc nhiên bị loại. Nắm đúng giới hạn này giúp người đọc sử dụng thông tin về mức 8% đúng mục đích: hiểu phạm vi giảm thuế đến hết năm 2026, nhận diện các nhóm loại trừ và không mở rộng ngoại lệ than, xăng vượt quá câu chữ của văn bản.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Phước Hiếu

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm