Bất khả kháng trong hợp đồng: điều kiện miễn trách nhiệm và những điều không tự phát sinh
▶Mục lục bài viết
Bão lũ, sự cố lớn hoặc một lệnh hạn chế hoạt động có thể làm gián đoạn hợp đồng, nhưng tên gọi của sự kiện chưa đủ để kết luận bên vi phạm được miễn trách nhiệm. Cần xác định sự kiện có đáp ứng điều kiện bất khả kháng, tác động thế nào đến nghĩa vụ cụ thể và hợp đồng đã phân chia rủi ro ra sao. Miễn trách nhiệm cũng không đồng nghĩa mọi nghĩa vụ tự biến mất.
Căn cứ chung nằm ở khoản 1 Điều 156 và khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13. Quốc hội ban hành văn bản ngày 24/11/2015, hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Khi giải quyết một hợp đồng cụ thể, cần đối chiếu thêm quy định riêng của loại hợp đồng và luật liên quan.
Một sự kiện cần đáp ứng đồng thời những điều kiện nào?
Khoản 1 Điều 156 định nghĩa sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, trong khả năng cho phép. Các yếu tố này cần được xem xét cùng nhau. Có một sự kiện nằm ngoài ý muốn của bên thực hiện hợp đồng chưa đủ để bỏ qua những yếu tố còn lại.
Khả năng lường trước cần được đặt trong hoàn cảnh giao kết và thực hiện nghĩa vụ. Một trở ngại đã được biết rõ khi ký hợp đồng không thể chỉ vì tiếp tục gây khó khăn mà mặc nhiên trở thành bất khả kháng. Tương tự, nếu vẫn có biện pháp khắc phục phù hợp nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện, lập luận về việc không thể khắc phục cần được kiểm tra kỹ.
Điều 156 đặt định nghĩa trong quy định về thời gian không tính vào thời hiệu. Khi phân tích trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ, cần đọc định nghĩa này cùng Điều 351, không lấy mọi hệ quả về thời hiệu thay cho hệ quả về hợp đồng. Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau dù cùng sử dụng khái niệm bất khả kháng.
Phải chỉ ra nghĩa vụ bị ảnh hưởng và quan hệ nguyên nhân
Khoản 2 Điều 351 quy định bên không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Chữ “do” đòi hỏi làm rõ mối liên hệ giữa sự kiện và việc không thực hiện đúng. Một thông báo thiên tai trong khu vực chưa tự chứng minh mọi hợp đồng của doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng.
Ví dụ giả định, tuyến đường duy nhất phục vụ giao hàng bị phong tỏa vì sạt lở. Bên giao cần xác định lô hàng nào phải đi qua tuyến đó, thời điểm phải giao và việc tìm phương án thay thế. Nếu nghĩa vụ đang tranh chấp là thanh toán cho phần hàng đã nhận từ trước, phải phân tích riêng lý do sự kiện làm nghĩa vụ trả tiền không thực hiện đúng.
Cũng cần tách khoảng thời gian bị ảnh hưởng khỏi toàn bộ thời hạn hợp đồng. Sự kiện chỉ xảy ra trong một giai đoạn không tự giải thích được việc chậm trễ trước đó hoặc việc tiếp tục ngừng thực hiện sau khi trở ngại đã hết. Hồ sơ nên phản ánh được quá trình thay đổi thực tế, không chỉ ghi ngày xảy ra sự kiện.
Đọc điều khoản phân chia rủi ro và thông báo
Ngoại lệ tại khoản 2 Điều 351 cho thấy phải kiểm tra thỏa thuận và quy định pháp luật khác trước khi kết luận miễn trách nhiệm. Điều khoản hợp đồng có thể đề cập sự kiện được xem xét, cách thông báo, tài liệu cần cung cấp và việc tiếp tục thực hiện sau gián đoạn. Không nên chỉ đọc tiêu đề “bất khả kháng” rồi bỏ qua các điều kiện bên dưới.
Riêng Điều 351 không đặt ra một số ngày thông báo thống nhất cho mọi hợp đồng. Nếu hợp đồng hoặc luật áp dụng có yêu cầu riêng, các bên cần thực hiện đúng yêu cầu đó. Về thực tế, thông báo sớm giúp bên kia điều chỉnh kế hoạch và cùng tìm biện pháp hạn chế thiệt hại; đây không phải khẳng định rằng mọi trường hợp đều có cùng một hạn thông báo.
Một thông báo hữu ích nên nêu sự kiện, nghĩa vụ bị ảnh hưởng, thời điểm bắt đầu và biện pháp đã thực hiện. Nếu chưa xác định được thời gian khắc phục, có thể trình bày tình trạng hiện tại và cơ chế cập nhật thay vì cam kết một ngày hoàn thành không có căn cứ. Các đề xuất thay đổi tiến độ cần được phân biệt với thỏa thuận đã được chấp nhận.
Miễn trách nhiệm không tự động chấm dứt hợp đồng
Điều 351 điều chỉnh trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ. Không thể chỉ từ quy định này suy ra hợp đồng đương nhiên chấm dứt, toàn bộ khoản ứng trước được giữ lại hoặc bên kia phải hoàn lại ngay mọi khoản đã thanh toán. Mỗi hậu quả đó cần căn cứ riêng từ hợp đồng và pháp luật áp dụng.
Các bên có thể cần thống nhất tiếp tục công việc, điều chỉnh lịch hoặc kết thúc hợp đồng bằng một thỏa thuận riêng. Khi thương lượng, nên đối soát phần nghĩa vụ đã hoàn thành và phần còn lại. Việc gọi một sự kiện là bất khả kháng không thay thế việc xác định ai đã nhận gì, đã làm gì và khoản nào còn phải xử lý.
Điều 362 còn yêu cầu bên có quyền áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại cho mình. Khi có tranh chấp, hồ sơ về biện pháp hạn chế thiệt hại của bên bị ảnh hưởng cũng có ý nghĩa. Không nên để tổn thất tăng lên rồi cho rằng mọi khoản phát sinh đều đương nhiên do bên kia chịu.
Phân biệt với hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Chi phí thực hiện tăng mạnh hoặc giao dịch trở nên bất lợi không tự động đáp ứng định nghĩa bất khả kháng. Điều 420 có cơ chế riêng về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, với các điều kiện phải có đủ, trong đó có nguyên nhân khách quan sau giao kết, tính không thể lường trước và thiệt hại nghiêm trọng nếu tiếp tục thực hiện mà không thay đổi nội dung hợp đồng.
Điều luật còn yêu cầu bên bị ảnh hưởng đã áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu ảnh hưởng. Khi đủ điều kiện, bên đó có quyền yêu cầu đàm phán lại trong thời hạn hợp lý. Nếu không thỏa thuận được, một bên có thể yêu cầu Tòa án xử lý theo các trường hợp và giới hạn tại khoản 3 Điều 420.
Khoản 4 Điều 420 quy định trong quá trình đàm phán hoặc Tòa án giải quyết, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận khác. Vì vậy, gửi yêu cầu thương lượng lại không tự tạo quyền ngừng hợp đồng. Cũng không nên gộp cơ chế này với miễn trách nhiệm do bất khả kháng thành một lý do chung để từ chối thực hiện.
Hồ sơ nên phản ánh diễn biến thực tế
Nên lưu tài liệu về sự kiện, lịch thực hiện hợp đồng, thông báo đã gửi và các phương án khắc phục đã thử. Tài liệu của cơ quan có thẩm quyền có thể giúp xác định diễn biến khách quan, nhưng vẫn cần liên hệ với nghĩa vụ cụ thể. Một xác nhận chung về sự kiện không thay cho toàn bộ phần giải thích tác động đến hợp đồng.
Trước khi viện dẫn bất khả kháng, hãy kiểm tra điều kiện của sự kiện, quan hệ nguyên nhân và điều khoản phân chia rủi ro. Nếu vấn đề thực chất là chi phí tăng hoặc cần thêm thời gian, nên trình bày đúng khó khăn và phương án thương lượng. Dùng đúng căn cứ giúp các bên xác định phần việc còn phải làm, thay vì tranh luận chỉ quanh tên gọi của sự cố.
Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.
Phước Hiếu
Tìm kiếm
Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Barbara Palson
3 days agoLorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Daniel Adams
2 days ago