Di chúc viết tay có hiệu lực khi nào? Điều kiện cần kiểm tra

▶Mục lục bài viết

Di chúc viết tay không mặc nhiên vô hiệu vì thiếu công chứng hoặc người làm chứng. Tuy nhiên, một bản giấy có chữ ký cũng chưa đủ để kết luận di chúc hợp pháp. Cần xem ai viết, người lập có tự nguyện và minh mẫn hay không, nội dung phân chia tài sản cùng các yêu cầu về hình thức. Điều 630–634 Bộ luật Dân sự 2015 là căn cứ để kiểm tra những vấn đề này.

Điều kiện chung để di chúc viết tay hợp pháp

Khoản 1 Điều 630 đặt ra hai nhóm điều kiện phải đồng thời đáp ứng. Người lập phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Nội dung không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức không trái quy định của luật.

Vì vậy, việc bản di chúc được viết ngay ngắn, ghi rõ người nhận tài sản không thay thế được yêu cầu về ý chí tự nguyện. Ngược lại, ý nguyện thực sự của người để lại tài sản cũng không cho phép bỏ qua hình thức bắt buộc. Khi xem xét một bản di chúc, cần kiểm tra cả hoàn cảnh lập lẫn nội dung trên giấy.

Không công chứng có được không?

Khoản 4 Điều 630 cho phép di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực được coi là hợp pháp nếu đủ điều kiện tại khoản 1. Đây không phải sự miễn trừ mọi yêu cầu hình thức. Nếu chọn di chúc không có người làm chứng, người lập vẫn phải tuân thủ Điều 633 và các yêu cầu tại Điều 631.

Tự viết khác với nhờ người khác viết

Tự viết và ký: không bắt buộc người làm chứng

Theo Điều 633, người lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tự viết và ký vào bản di chúc. Cả hai việc đều thuộc về người lập. Không thể coi bản do người con chép hộ rồi cha hoặc mẹ ký là di chúc tự viết không có người làm chứng chỉ vì nội dung đúng ý người để lại tài sản.

Cũng không nên thay yêu cầu ký tại Điều 633 bằng việc chỉ điểm chỉ. Quy định về chữ ký hoặc điểm chỉ trên từng trang của di chúc nhiều trang tại Điều 631 không làm mất yêu cầu tự viết và ký của hình thức không có người làm chứng.

Nhờ viết hoặc đánh máy: phải có ít nhất hai người làm chứng

Điều 634 điều chỉnh trường hợp người lập không tự mình viết bản di chúc. Họ có thể tự đánh máy hoặc nhờ người khác viết, đánh máy nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Như vậy, bản được người khác viết bằng tay vẫn phải kiểm tra theo hình thức có người làm chứng, không chỉ nhìn vào nét chữ.

Người lập phải ký hoặc điểm chỉ trước mặt những người làm chứng. Những người này xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập và ký vào bản di chúc. Việc nhờ hai người ký thêm về sau, khi họ không chứng kiến việc ký hoặc điểm chỉ, không đáp ứng đúng trình tự được Điều 634 mô tả.

Di chúc cần ghi những nội dung nào?

Khoản 1 Điều 631 yêu cầu các nội dung chủ yếu: ngày, tháng, năm lập; họ tên và nơi cư trú của người lập; họ tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Ngoài những nội dung này, di chúc có thể có nội dung khác.

Khi diễn đạt, nên mô tả người được hưởng và tài sản đủ rõ để tránh nhầm lẫn. Chẳng hạn, nếu gia đình có hai người cùng tên, việc chỉ ghi tên gọi ở nhà dễ gây khó khăn khi xác định người nhận. Đây là khuyến nghị về cách viết rõ ràng, không phải việc bổ sung một loại giấy tờ bắt buộc ngoài Điều 631.

Nhiều trang, tẩy xóa và sửa chữa

Khoản 3 Điều 631 quy định di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu. Nếu có nhiều trang, mỗi trang phải ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập. Chỉ ký ở trang cuối mà bỏ qua các trang trước không đáp ứng yêu cầu này.

Nếu có tẩy xóa, sửa chữa, người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. Khi rà soát, cần đối chiếu cả phần sửa và chữ ký xác nhận cạnh đó, thay vì chỉ kiểm tra chữ ký cuối văn bản.

Ai không được làm chứng?

Điều 632 loại trừ người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Do đó, người được chỉ định nhận di sản không thể đồng thời làm chứng cho việc lập di chúc ấy. Chọn hai người thân ký tên chưa đủ; phải kiểm tra từng người có thuộc nhóm bị loại trừ hay không. Di chúc theo Điều 634 phải tuân thủ đồng thời Điều 631 và Điều 632.

Hai trường hợp phải kiểm tra yêu cầu riêng

Khoản 2 Điều 630 quy định di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi phải lập thành văn bản và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Không thể chỉ áp dụng quy tắc tự viết và ký rồi bỏ qua điều kiện đồng ý này.

Với người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ, khoản 3 Điều 630 yêu cầu người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Vì thế, không nên áp dụng kết luận chung rằng mọi di chúc viết tay đều không cần công chứng cho nhóm trường hợp này.

Hợp pháp khi lập chưa đồng nghĩa phát sinh hiệu lực ngay

Khoản 1 Điều 643 quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Cần phân biệt mốc này với việc đáp ứng điều kiện hợp pháp tại lúc lập. Trước khi ký, người lập nên rà lại nội dung bắt buộc, cách lập, tư cách người làm chứng và yêu cầu riêng của mình; một chữ ký cuối trang không thay thế được toàn bộ việc kiểm tra đó.

Người đàn ông tự tay viết di chúc trên các trang giấy tại nhà.
Hình minh họa: FindLaw Asia.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Thiên Kỳ

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm