Tổng hợp 10 bản án tranh chấp hợp đồng vay tài sản có yêu cầu trách nhiệm liên đới của vợ chồng

Mục lục bài viết

Findlaw Asia giới thiệu tài liệu TỔNG HỢP 10 BẢN ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN CÓ YÊU CẦU TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI CỦA VỢ CHỒNG do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của Findlaw Asia sưu tầm, tổng hợp. 

STT

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Tên: Bản án số 559/2024/DS-PT về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản 

Số: 559/2024/DS-PT 

Nội dung vụ việc: Vụ án xuất phát từ việc bà Phạm Thị Thúy D cho ông Bùi Vĩnh L vay hai lần, tổng cộng 1,2 tỷ đồng (ngày 10/10/2021 vay 1,15 tỷ đồng và ngày 12/10/2021 vay 50 triệu đồng) không lãi suất, thời hạn 1 tháng. Hết hạn, ông L không trả. Bà D khởi kiện yêu cầu ông L và vợ là bà Lê Thị Kim N liên đới trả 1,439 tỷ đồng, gồm nợ gốc và lãi chậm trả. Ông L thừa nhận vay và đồng ý trả nhưng cho rằng bà N không liên quan, còn bà N khai vợ chồng làm ăn riêng, không biết việc vay. Cấp sơ thẩm chỉ buộc ông L trả nợ, không buộc bà N liên đới, nên bà D kháng cáo.

Link bản án: Bản án số 559 /2024/DS-PT về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản 

2

Tên: Bản án số 173/2024/DS-ST về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số: Bản án số 173/2024/DS-ST về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Nội dung vụ việc: Ngày 31/3/2023, vợ chồng ông Huỳnh Văn P1 và bà Hồ Kim P2 có mượn bà Bé P 180.000.000 đồng, việc mượn tiện có biên nhận bằng giấy viết tay. Vợ chồng bà P2, ông P1 cam kết sẽ hoàn trả cho bà Bé P mỗi tháng là 10.000.000 đồng bắt đầu từ ngày 29/4/2023 cho đến khi hết số tiền 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng bà P2 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nay bà Nguyễn Thị Bé P khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn P1 và bà Hồ Kim P2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà B P1 số tiền còn nợ là 180.000.000, không yêu cầu tính lãi suất.

Link bản án: Bản án số 173/2024/DS-ST về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

3

Tên: Bản án số 353/2023/DS-PT về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số: 353/2023/DS-PT

Nội dung vụ việc: Ngày 21/11/2021, chị Trần Thị L cho anh Trần Hồng H vay số tiền 100.000.000  đồng, không thỏa thuận lãi suất, có biên nhận hẹn ngày 21/3/2022 trả tiền. Đến hẹn,  anh H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Thời điểm vay tiền anh H với chị P1 đang  tồn tại mối quan hệ hôn nhân. Ngày 11/01/2023, chị L khởi kiện yêu cầu anh H, chị P1 cùng có trách nhiệm thanh toán cho chị L nợ gốc 100.000.000 đồng và lãi suất  tính từ ngày 21/3/2022 đến ngày 11/01/2023, mức lãi suất 0.83%/tháng bằng số tiền  8.049.600 đồng.

Link bản án: Bản án số 353/2023/DS-PT về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

4

Tên: Bản án số 118/2023/DS-PT về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Số: 118/2023/DS-PT

Nội dung vụ việc: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H và bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị Kim O, bà H cho rằng ông T nhiều lần vay tiền để làm ăn trong lĩnh vực xây dựng, tổng hợp lại ngày 04/11/2020 xác nhận còn nợ 920.000.000 đồng và cam kết trả trước 20/12/2020 nhưng không thực hiện. Bà yêu cầu vợ chồng ông T, bà O liên đới trả nợ gốc và lãi do khoản vay phục vụ nhu cầu chung của gia đình. Ông T thừa nhận từng vay 155.000.000 đồng, nhưng phủ nhận khoản nợ 920 triệu, cho rằng bị ép ký giấy vay. Bà O khẳng định không biết, không tham gia và không hưởng lợi nên không đồng ý liên đới trả nợ.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc vợ chồng ông T, bà O trả tổng cộng 1.131.285.000 đồng (gồm gốc và lãi), đồng thời tiếp tục phong tỏa quyền sử dụng đất của ông T. Cả hai vợ chồng kháng cáo, cho rằng đây là nợ riêng của ông T. Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm nhận định ông T không chứng minh được việc bị ép buộc ký giấy vay và số tiền được xác định phục vụ hoạt động kinh doanh – là nguồn thu nhập chung của gia đình. Bà O không chứng minh được khoản vay dùng cho mục đích riêng, nên theo Điều 27, 30, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hai vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ.
Tòa phúc thẩm bác kháng cáo của ông T và bà O, giữ nguyên án sơ thẩm, buộc hai người trả cho bà H 1.131.285.000 đồng, ghi nhận việc bà H tự nguyện trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T đã giao làm tin, và xác định bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Link bản án: Bản án số 118/2023/DS-PT Tranh chấp hợp đồng vay tài sản 

5

Tên: Bản án số 249/2023/DS-PT về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số: 249/2023/DS-PT

Nội dung vụ việc: Ngày 22-3-2022 ông B vay bà T số tiền 1.000.000.000 đồng, có giấy viết tay  biên nhận, thời hạn trả tiền là 02 ngày kể từ ngày vay, mục đích vay tiền là để ông B đáo hạn ngân hàng, thỏa thuận bằng lời nói lãi suất 3.000 đồng/1.000.000  đồng/1ngày. Đến hạn trả tiền ông B không thực hiện như cam kết. Nay bà T khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn B cùng bà Hồ Thị Kim T1 liên đới trả cho bà số tiền gốc vay là 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) và tiền lãi của số tiền gốc vay 1.000.000.000  đồng, với lãi suất 1,66%/tháng tính từ ngày 22-3-2022 đến ngày đến ngày xét xử.

Link bản án Bản án số 249/2023/DS-PT về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản

6

Tên: Bản án số 14/2024/DS-ST về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số: 14/2024/DS-ST

Nội dung vụ việc: Vụ án phát sinh từ việc vợ chồng anh Bùi Bảo H và chị Hồ Thị T cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ và chị Hồ Thanh Kim Y vay số tiền 80 triệu đồng để nuôi tôm từ năm 2016. Sau một thời gian, bên vay đã trả được 50 triệu đồng, còn nợ lại 30 triệu đồng. Dù nguyên đơn nhiều lần yêu cầu thanh toán, bị đơn vẫn không thực hiện. Anh Đ thừa nhận còn nợ 30 triệu đồng và xin trả dần, nhưng không được bên cho vay đồng ý. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bị đơn liên đới trả nợ 30 triệu đồng.

Link bản án: Bản án số 14/2024/DS-ST về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

7

Tên: Bản án số 39/2023/DS-ST ngày 06-7-2023 “V/v t/c hợp đồng vay tài sản"

Số: 39/2023/DS-ST

Nội dung vụ việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y và bị đơn ông Võ Minh H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị D và bà Trần Thị N. Bà Y cho biết ngày 27/01/2022, bà cho ông H vay 1 tỷ đồng, thời hạn 1 năm, lãi suất thỏa thuận 1,5%/tháng (không ghi trong hợp đồng, có công chứng). Ông H trả lãi được 9 tháng, sau đó ngừng trả và đến hạn không hoàn vốn. Bà Y nhiều lần liên hệ nhưng ông H cố tình tránh mặt, nên khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H thanh toán toàn bộ 1 tỷ đồng, không yêu cầu lãi. Ông H thừa nhận có ký hợp đồng vay nhưng cho rằng chỉ nợ bà Y 630 triệu đồng, còn 370 triệu đồng là nợ của bà Trần Thị N – em dâu bà Y, được cộng dồn vào hợp đồng vay cho “tròn số”. Ông H khai đã trả 180 triệu tiền lãi và 50 triệu tiền gốc nhưng không có chứng cứ. Bà N xác nhận ông H có nợ mình 370 triệu đồng và thỏa thuận miệng giữa ba bên là gộp vào khoản vay 1 tỷ, tuy nhiên không có văn bản chứng minh.
Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ xác định hợp đồng vay được công chứng hợp pháp, ông H thừa nhận việc vay 1 tỷ đồng nhưng không chứng minh được việc chỉ nợ 630 triệu đồng, cũng như không có chứng cứ chứng minh phần 370 triệu là nợ của bà N. Do đó, Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y, buộc ông Võ Minh H và vợ là bà Võ Thị D phải liên đới trả 1 tỷ đồng tiền gốc, đình chỉ yêu cầu về lãi suất do nguyên đơn rút yêu cầu. Ngoài ra, ông H và bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 42 triệu đồng, bà Y không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Link bản án: Bản án số 39/2023/DS-ST Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

8

Tên: Bản án số 04/2022/DS-ST ngày 04/5/2022 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Số: 04/2022/DS-ST

Nội dung vụ việc: Anh Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Sĩ N và chị Hoàng Thị Phương Th trả số tiền vay 3,2 tỷ đồng. Anh T trình bày trong các năm 2018–2019, do quen biết và là hàng xóm, anh đã nhiều lần cho vợ chồng anh N, chị Th vay tổng cộng 3,5 tỷ đồng, trong đó có 3 tỷ đồng anh vay ngân hàng bằng cách thế chấp đất để cho vay lại, và 500 triệu đồng cho vay nhiều lần lẻ. Anh N, chị Th chỉ mới trả 300 triệu đồng, số còn lại không trả dù anh T nhiều lần đòi, sau đó có lập giấy xác nhận nợ 3 tỷ đồng. Anh T khởi kiện yêu cầu trả 3,2 tỷ đồng tiền gốc, không yêu cầu lãi. Anh N thừa nhận nợ 3,2 tỷ đồng nhưng cho rằng đó là tiền góp làm ăn chung trong dịch vụ đáo hạn ngân hàng, vợ anh không biết và không liên quan, đồng ý một mình trả nợ, xin được trả dần. Chị Th phủ nhận trách nhiệm, nói việc vay nợ là của riêng anh N, chị không biết và không hưởng lợi, nên không đồng ý cùng trả nợ.
Tòa án nhận định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Phước Long. Các bên đều thừa nhận anh N còn nợ anh T 3,2 tỷ đồng nên không cần chứng minh thêm. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ, Tòa xác định anh N, chị Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Số tiền vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh nhằm duy trì và phát triển kinh tế gia đình, nên theo Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chị Th phải cùng anh N liên đới trả nợ. Việc anh T rút yêu cầu về lãi suất là tự nguyện nên được chấp nhận.
Tòa án quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Nguyễn Thanh T, buộc anh Nguyễn Sĩ N và chị Hoàng Thị Phương Th liên đới trả cho anh T 3,2 tỷ đồng tiền gốc; đình chỉ phần yêu cầu về lãi suất. Vợ chồng anh N, chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 48 triệu đồng (được giảm 50% do hoàn cảnh khó khăn), anh T được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Các bên có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Link bản án: Bản án số 04/2022/DS-ST Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

9

Tên: Bản án số 18/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Số: 18/2020/DS-ST

Nội dung vụ việc: Ngày 05/3/2018, chị Phạm Nguyễn Ngọc Quỳnh T cho vợ chồng ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị O vay 200.000.000 đồng để mua bán điều, có lập “giấy cầm sổ” do bà O ký, lãi suất thỏa thuận miệng 3%/tháng, thời hạn 30 ngày, và bà O cầm cố hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông S để đảm bảo khoản vay. Sau khi đến hạn, ông S và bà O không trả nợ, dù chị T nhiều lần đòi.
Bà O cho rằng mình chỉ vay 100.000.000 đồng của bà Trương Thị Thanh Th (mẹ chồng chị T), chứ không giao dịch với chị T, đồng thời khai đã trả lãi 3.000.000 đồng/tháng đến tháng 11/2019 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Bà không xác định được chữ ký trong giấy vay 200 triệu có phải của mình hay không và cũng không yêu cầu giám định. Luật sư bảo vệ bà O đề nghị nhập vụ án này với một vụ khác liên quan đến khoản vay 100 triệu để giải quyết chung.
Tòa án nhận định có đủ căn cứ xác định bà O vay tiền của chị T số tiền 200.000.000 đồng, bởi bà O không chứng minh được việc vay 100 triệu từ bà Th, đồng thời từ bỏ quyền chứng minh khi không yêu cầu giám định chữ ký. Việc vay xảy ra trong thời kỳ hôn nhân, nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán điều để đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, nên ông S (chồng bà O) phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
Tòa không chấp nhận lời khai về việc đã trả lãi vì không có chứng cứ. Về lãi suất, do nguyên đơn chỉ yêu cầu áp dụng mức lãi cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm xét xử (0,75%/tháng), Tòa tính lãi từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm (30 tháng 19 ngày) là 45.950.000 đồng. Tổng cộng, vợ chồng ông S và bà O phải trả 245.950.000 đồng (gồm 200 triệu gốc và 45,95 triệu lãi) cho chị T.
Tòa cũng ghi nhận chị T tự nguyện trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi bên vay trả hết nợ, và buộc ông S và bà O chịu án phí sơ thẩm 12.297.500 đồng, hoàn trả cho chị T 6.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí. Các bên có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Link bản án: Bản án số 18/2020/DS-ST Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

10

Tên: Bản án số 12/2023/DS-PT ngày 10-01-2023 "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

Số: 12/2023/DS-PT

Nội dung vụ việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và bị đơn bà Mai Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hùng C. Bà L cho rằng ngày 15/10/2019, bà T vay của bà 146.000.000 đồng để kinh doanh, có lập biên nhận và ký tên, thời hạn vay 1 tháng nhưng không trả nợ, chỉ hứa sẽ trả dần 1.000.000 đồng/tháng từ ngày 15/10/2020 song không thực hiện. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu bà T và ông C cùng trả số tiền trên. Bà T thừa nhận có ký biên nhận nợ tại Công an thị trấn Tân Thạnh nhưng cho rằng do bị áp lực nên ký, đồng thời phủ nhận việc vay 146.000.000 đồng như bà L trình bày, mà chỉ thừa nhận có vay tiền góp nhiều lần với tổng số tiền 156.120.000 đồng và đã trả gần hết. Ông C khai không biết việc bà T vay nợ, không đồng ý liên đới trả vì không có tham gia, và hiện ông bà đã ly hôn.
Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc bà Mai Thị T và ông Nguyễn Hùng C liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L 31.000.000 đồng tiền gốc, không chấp nhận yêu cầu với 115.000.000 đồng còn lại. Ông C kháng cáo cho rằng không có nghĩa vụ liên đới. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm nhận định khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nhằm mục đích kinh doanh và phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, ông C vẫn phải cùng bà T chịu trách nhiệm trả nợ. Tòa án nhân dân tỉnh Long An bác kháng cáo của ông C, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc hai người liên đới trả 31.000.000 đồng, đồng thời tuyên về nghĩa vụ chậm trả, án phí sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Link bản án: Bản án số 12/2023/DS-PT Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác. 

3 Comments

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.

Barbara Palson

Barbara Palson

3 days ago
Reply

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.

Daniel Adams

Daniel Adams

2 days ago

At vero eos et accusamus et iusto odio dignissimos ducimus qui blanditiis praesentium voluptatum deleniti atque corrupti quos dolores et quas molestias excepturi sint occaecati cupiditate non provident, similique sunt in culpa qui officia deserunt mollitia animi. Nemo enim ipsam voluptatem quia voluptas sit aspernatur aut odit aut fugit.

Tim Brooks

Tim Brooks

1 week ago
Reply
Join the conversation
Please enter your name.
Looks good!
Please provide a vild email address.
Looks good!
Please write your comment.
Looks good!