Khắc phục vi phạm thống kê từ 02/11/2026: hạn thực hiện khác hạn báo cáo thế nào?

▶Mục lục bài viết

Từ ngày 02/11/2026, thời hạn thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3c Nghị định 95/2016/NĐ-CP là 10 hoặc 30 ngày làm việc, kể từ ngày cá nhân, tổ chức nhận được quyết định. Sau khi hoàn thành, người bị xử phạt phải gửi báo cáo bằng văn bản trong 05 hoặc 10 ngày làm việc tương ứng. Riêng một số biện pháp hủy bỏ tài liệu, kết quả thống kê có thời hạn thi hành theo quyết định nếu quyết định ấn định thời hạn.

Các thời hạn trên được quy định tại Điều 3c, được sửa đổi, bổ sung theo khoản 3 Điều 1 Nghị định 362/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Điều 3c là điều khoản thuộc Nghị định 95/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê.

Thời hạn khắc phục được tính từ khi nào?

Theo điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3c, cá nhân, tổ chức tính thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập. Như vậy, cả hai loại quyết định đều có thể là căn cứ bắt đầu tính hạn. Mốc được quy định là ngày người có nghĩa vụ nhận được quyết định, thay vì ngày người có thẩm quyền ký ban hành.

Thời hạn báo cáo bắt đầu khi cá nhân, tổ chức đã hoàn thành biện pháp khắc phục hậu quả. Khoảng thời gian này dành cho việc gửi báo cáo kết quả đến cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận. Nếu người bị xử phạt hoàn thành biện pháp trước khi hết hạn thi hành, thời hạn báo cáo vẫn tính từ ngày hoàn thành thực tế. Người bị xử phạt không chờ hết hạn khắc phục mới bắt đầu tính thời gian gửi báo cáo.

Minh họa hai nhân viên đối chiếu biểu đồ và chuẩn bị hồ sơ báo cáo kết quả.
Hình minh họa: FindLaw Asia.

Nhóm có thời hạn khắc phục 10 ngày làm việc

Điểm a khoản 2 Điều 3c quy định thời hạn thi hành 10 ngày làm việc đối với các biện pháp tại điểm a, d, đ, e, g, h, i, k, l, m khoản 2 Điều 3 của nghị định này. Trong đó, Điều 3 quy định các biện pháp khắc phục hậu quả, còn Điều 3c quy định việc thi hành. Cá nhân, tổ chức xác định thời hạn theo biện pháp được áp dụng trong quyết định.

Nhóm này gồm các biện pháp như buộc hủy bỏ báo cáo thống kê; buộc cải chính nguồn thông tin thống kê đã trích dẫn, phổ biến, đăng tải; buộc đính chính những thông tin thống kê đã phổ biến, đăng tải, ghi trên các ấn phẩm sai sự thật. Các biện pháp trong nhóm đều có thời hạn thi hành 10 ngày làm việc; nội dung cần khắc phục được xác định cụ thể trong quyết định.

Sau khi hoàn thành biện pháp thuộc nhóm này, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải gửi báo cáo bằng văn bản trong 05 ngày làm việc. Người bị xử phạt gửi báo cáo đến cơ quan của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập. Quy định xác định nơi nhận theo người ban hành quyết định, nên cơ quan tiếp nhận báo cáo phụ thuộc vào quyết định của từng vụ việc.

Nhóm có thời hạn khắc phục 30 ngày làm việc

Điểm b khoản 2 Điều 3c quy định thời hạn thi hành 30 ngày làm việc cho các biện pháp tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 3. Hai điểm này gồm: buộc hủy bỏ phiếu, biểu điều tra thống kê và buộc hủy kết quả điều tra thống kê; buộc khôi phục lại phiếu, biểu điều tra, báo cáo thống kê còn khả năng khôi phục. Cá nhân, tổ chức tính thời hạn từ ngày nhận được một trong hai loại quyết định nêu trên.

Đối với nhóm này, thời hạn gửi báo cáo bằng văn bản là 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành biện pháp. Cơ quan nhận báo cáo vẫn là cơ quan của người có thẩm quyền ban hành quyết định. Vì vậy, người bị buộc khôi phục lại phiếu, biểu điều tra, báo cáo thống kê còn khả năng khôi phục có thời hạn báo cáo 10 ngày làm việc, còn người thực hiện việc đính chính thông tin thuộc nhóm trước có thời hạn báo cáo 05 ngày làm việc.

Trường hợp nào thực hiện theo thời hạn trong quyết định?

Điểm d khoản 2 Điều 3c quy định riêng đối với các biện pháp tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 3. Đó là buộc hủy bỏ báo cáo thống kê; buộc hủy bỏ phiếu, biểu điều tra thống kê và buộc hủy kết quả điều tra thống kê. Nếu quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập có quy định thời hạn thi hành, cá nhân, tổ chức thực hiện theo thời hạn trong quyết định.

Khi quyết định không ấn định thời hạn thi hành đối với các biện pháp này, thời hạn theo nhóm tương ứng là 10 ngày làm việc đối với hủy bỏ báo cáo thống kê và 30 ngày làm việc đối với hủy bỏ phiếu, biểu điều tra thống kê và hủy kết quả điều tra thống kê. Điểm d chỉ điều chỉnh thời hạn thi hành. Sau khi hoàn thành, người bị xử phạt vẫn gửi báo cáo trong 05 hoặc 10 ngày làm việc theo nhóm biện pháp tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 3c.

Hành vi xảy ra trước ngày 02/11/2026 áp dụng quy định nào?

Điều 4 Nghị định 362/2026/NĐ-CP phân biệt hai trường hợp chuyển tiếp. Theo khoản 1, nếu hành vi vi phạm xảy ra và đã kết thúc trước ngày 02/11/2026, đồng thời đang được xem xét, giải quyết khi nghị định đã có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền áp dụng Nghị định 95/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 100/2021/NĐ-CP để xử lý.

Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 362/2026/NĐ-CP, nếu hành vi xảy ra trước ngày 02/11/2026 nhưng vẫn đang diễn ra khi nghị định đã có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền áp dụng quy định của nghị định mới để xử lý. Hai trường hợp đều có hành vi bắt đầu trước ngày hiệu lực; tình trạng hành vi đã kết thúc hay còn tiếp diễn tại thời điểm đó quyết định quy định chuyển tiếp được áp dụng.

Đối với vụ việc thuộc quy định mới, loại biện pháp trong quyết định là căn cứ xác định nhóm thời hạn khắc phục và thời hạn báo cáo. Cá nhân, tổ chức hoàn thành việc khắc phục trong hạn thi hành áp dụng cho mình, sau đó gửi báo cáo trong hạn tính từ ngày hoàn thành. Thời gian gửi báo cáo không kéo dài thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Thiên Kỳ

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm