Giáo dục bắt buộc từ 01/11/2026: trẻ nào thuộc diện tiểu học, THCS?

▶Mục lục bài viết

Từ ngày 01/11/2026, đối tượng giáo dục tiểu học bắt buộc là trẻ từ 6 đến 14 tuổi chưa hoàn thành chương trình tiểu học; đối tượng giáo dục trung học cơ sở bắt buộc là thanh niên, thiếu niên từ 11 đến 18 tuổi đã hoàn thành tiểu học nhưng chưa hoàn thành THCS. Hai nhóm được xác định tại Điều 13 và Điều 17 Nghị định 353/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 11/09/2026.

Để xác định đúng nhóm, gia đình cần đối chiếu cả độ tuổi và chương trình người học đã hoàn thành. Nghị định đồng thời quy định trách nhiệm hỗ trợ học tập, hình thức học cho người đã quá tuổi và tiêu chuẩn công nhận địa phương đạt chuẩn. Đây là những nội dung có đối tượng áp dụng khác nhau, cần đọc riêng khi sử dụng.

Ảnh minh họa: Vitaly Gariev/Pexels. Hình ảnh gia đình chuẩn bị đến trường, không phải sự kiện thực tế trong bài.

Tiểu học bắt buộc: độ tuổi đi cùng tình trạng hoàn thành chương trình

Điều 13 Nghị định 353/2026/NĐ-CP đặt hai dấu hiệu đồng thời: trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 và chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Vì vậy, khoảng tuổi này xác định nhóm cần hoàn thành giáo dục tiểu học, chứ không phải quy tắc tự động xếp mỗi tuổi vào một lớp.

Trẻ còn trong khoảng tuổi nhưng đã hoàn thành chương trình tiểu học có tình trạng học tập khác với trẻ cùng tuổi chưa hoàn thành. Việc giữ đầy đủ vế “chưa hoàn thành” giúp tránh gom hai trường hợp vào cùng một nhóm chỉ vì trùng tuổi. Đây cũng là thông tin cần thiết khi gia đình và cơ sở giáo dục đối chiếu kết quả học tập đã có.

Chương trình thực hiện giáo dục tiểu học bắt buộc là chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, theo Điều 14. Ở cấp cá nhân, khoản 1 Điều 15 xác định tiêu chuẩn đạt chuẩn mức độ hoàn thành là hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Như vậy, đối tượng của Điều 13 và kết quả tại Điều 15 được nối với nhau bằng chính việc hoàn thành chương trình.

THCS bắt buộc có thêm điều kiện đã hoàn thành tiểu học

Điều 17 Nghị định 353/2026/NĐ-CP quy định nhóm THCS bắt buộc là thanh niên, thiếu niên từ 11 đến 18 tuổi đã hoàn thành chương trình tiểu học nhưng chưa hoàn thành chương trình THCS. Ngoài tuổi, điều khoản đòi hỏi đọc cả kết quả của cấp học trước và tình trạng của cấp học tiếp theo.

Điều kiện đã hoàn thành tiểu học là điểm phân biệt quan trọng giữa hai nhóm. Người trong khoảng 11–14 tuổi có thể cùng nằm trong khoảng tuổi được nêu ở hai điều, nhưng việc xác định nhóm phải dựa vào chương trình đã hoàn thành. Đọc Điều 17 chỉ đến cụm “từ 11 đến 18 tuổi” sẽ bỏ mất tiêu chí này và dẫn đến phân loại sai.

Theo Điều 18, chương trình thực hiện là chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Khoản 1 Điều 19 quy định tiêu chuẩn đối với cá nhân ở mức độ hoàn thành là hoàn thành chương trình THCS. Bởi vậy, việc xác định đối tượng, chương trình học và kết quả hoàn thành có căn cứ riêng, thay vì suy ra toàn bộ từ một mốc tuổi.

Minh họa người mẹ chỉnh ba lô cho con ở cổng trường, một học sinh khác đi vào sân.
Hình minh họa: FindLaw Asia.

Gia đình và cơ sở giáo dục có trách nhiệm gì?

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 353/2026/NĐ-CP quy định công dân trong độ tuổi thực hiện giáo dục bắt buộc có nghĩa vụ học tập để hoàn thành giáo dục bắt buộc. Nghĩa vụ này đi cùng nguyên tắc tại khoản 1 Điều 4: Nhà nước bảo đảm các điều kiện thực hiện.

Về phía gia đình, người giám hộ, khoản 2 Điều 8 yêu cầu tạo điều kiện cho thành viên trong độ tuổi quy định được học tập và hoàn thành giáo dục bắt buộc. Khoản 3 giao cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ. Cách phân chia này cho thấy việc hoàn thành giáo dục bắt buộc gắn với trách nhiệm của người học và sự hỗ trợ, tổ chức của các chủ thể liên quan.

Điều 7 còn yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, bảo đảm quyền học tập; huy động, hỗ trợ và tạo điều kiện phù hợp; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền hành vi cản trở học tập. Khi cập nhật hồ sơ, các chủ thể phải bảo đảm số liệu đầy đủ, chính xác, trung thực và chịu trách nhiệm trong phạm vi quản lý, cung cấp hoặc xác nhận.

Người đã quá tuổi vẫn có hình thức học phù hợp

Khoản 2 Điều 6 Nghị định 353/2026/NĐ-CP quy định việc học đối với người đã quá độ tuổi thực hiện giáo dục bắt buộc nhưng chưa hoàn thành tiểu học hoặc THCS được tổ chức theo hình thức giáo dục thường xuyên và các hình thức giáo dục khác theo pháp luật. Quy định về đối tượng trong độ tuổi và quy định về cơ hội học khi quá tuổi có chức năng khác nhau.

Khoản 1 Điều 8 tiếp tục xác định công dân đã quá tuổi mà chưa biết chữ hoặc chưa hoàn thành chương trình được tạo điều kiện học phù hợp để xóa mù chữ, hoàn thành tiểu học, THCS hoặc chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng. Khoản 2 yêu cầu gia đình, người giám hộ tạo điều kiện cho thành viên thuộc nhóm này học tập. Vì vậy, kết thúc khoảng tuổi của Điều 13 hoặc Điều 17 không đồng nghĩa kết thúc cơ hội hoàn thành chương trình.

Chuẩn công nhận địa phương khác tiêu chuẩn của cá nhân

Điều 15 và Điều 19 Nghị định 353/2026/NĐ-CP tách tiêu chuẩn đối với cá nhân, xã và tỉnh. Cá nhân được xét theo việc hoàn thành chương trình tương ứng; xã được xem xét theo các tỷ lệ, điều kiện cụ thể; tỉnh được xem xét dựa trên tỷ lệ xã đạt chuẩn. Các tỷ lệ ở cấp địa phương phục vụ việc đánh giá, công nhận địa phương.

Khi xác định tỷ lệ hoàn thành, Điều 9 có quy định riêng về những trường hợp chưa hoàn thành chương trình không tính vào tổng số người làm căn cứ tính tỷ lệ. Các trường hợp này gắn với điều kiện và chứng cứ cụ thể, như không có khả năng học tập do tình trạng sức khỏe hoặc khuyết tật nặng, đặc biệt nặng không có khả năng học tập. Đây là quy tắc xác định mẫu số của tỷ lệ, cần phân biệt với trách nhiệm bảo đảm quyền học tập.

Khoản 2 Điều 9 ưu tiên khai thác thông tin, dữ liệu có giá trị pháp lý từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin liên quan. Chỉ yêu cầu hồ sơ, giấy tờ hoặc xác nhận khi dữ liệu cần thiết chưa có, chưa đầy đủ hoặc chưa thể khai thác. Quy định này giúp xác định cách chứng minh trường hợp khi tính tỷ lệ; không đặt yêu cầu mọi gia đình đều phải xin thêm giấy xác nhận.

Nghị định có hiệu lực từ 01/11/2026 theo khoản 1 Điều 47. Khi áp dụng, gia đình và cơ sở giáo dục nên bắt đầu từ tuổi, kết quả hoàn thành chương trình và nhu cầu học tiếp của người học; cơ quan công nhận địa phương đối chiếu thêm bộ tiêu chuẩn dành riêng cho xã, tỉnh. Mỗi nhóm câu hỏi cần được giải quyết bằng đúng điều khoản điều chỉnh nhóm đó.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Phước Hiếu

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm