Doanh nghiệp có được ủy quyền cho nhiều người thực hiện một công việc hay không?
Mục lục bài viết
- Cơ sở pháp lý
- Bộ luật Dân sự 2015
- Luật Doanh nghiệp 2020
- Luật Các Tổ chức tín dụng 2010

(Ảnh minh hoạ)
- Khái niệm uỷ quyền
Ủy quyền là việc thỏa thuận của các bên theo đó bên được ủy quyền sẽ có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền.
Ủy quyền là một trong hai hình thức đại diện theo quy định của pháp luật được ghi nhận tại Điều 135 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (gọi là đại diện theo ủy quyền) hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (gọi chung là đại diện theo pháp luật).
Hiện tại, Luật dân sự Việt Nam quy định uỷ quyền có thể dưới nhiều hình thức, có thể uỷ quyền bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Văn bản uỷ quyền có thể chia thành hai loại: Giấy uỷ quyền hoặc Hợp đồng uỷ quyền. Theo quy định tại Điều 562 Bộ luật này, hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Hình thức uỷ quyền có hiệu lực hay không khi doanh nghiệp đã uỷ quyền cho một cá nhân nhưng lại tiếp tục uỷ quyền cho một cá nhân khác thực hiện cùng một công việc?
Pháp luật dân sự hiện tại không cấm doanh nghiệp uỷ quyền thực hiện một công việc nhất định cho hai hay nhiều chủ thể. Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này.”
Do đó, việc doanh nghiệp đã uỷ quyền cho một cá nhân thực hiện công việc nhất định nhưng lại tiếp tục uỷ quyền cho cá nhân khác thực hiện công việc đó là không trái luật. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp chủ thể có quyền không được uỷ quyền cho các chủ thể không đủ tư cách/năng lực chủ thể để thực hiện công việc được uỷ quyền. Lấy ví dụ cho trường hợp này, tại khoản 5 Điều 81 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, chủ tịch và thành viên hội đồng quản trị không được uỷ quyền cho những người không thuộc hội đồng quản trị thực hiện công việc của mình. Chính vì vậy doanh nghiệp khi uỷ quyền cho một cá nhân cần lưu ý đến tư cách chủ thể của người được uỷ quyền nhằm phòng hờ việc hợp đồng uỷ quyền không có giá trị pháp lý.
Trên đây là bài viết về: “Doanh nghiệp đã uỷ quyền cho một cá nhân thực hiện công việc nhất định nhưng lại tiếp tục uỷ quyền cho cá nhân khác thực hiện cùng một công việc có được không?”. Theo đó, pháp luật không cấm việc doanh nghiệp uỷ quyền cho hai hay nhiều người trở lên cùng thực hiện một công việc, tuy nhiên cần lưu ý về năng lực thực hiện công việc của chủ thể được uỷ quyền, hợp đồng uỷ quyền có thể bị vô hiệu nếu pháp luật chuyên ngành/điều lệ công ty không cho phép doanh nghiệp uỷ quyền cho một hay một số chủ thể.
3 Comments
At vero eos et accusamus et iusto odio dignissimos ducimus qui blanditiis praesentium voluptatum deleniti atque corrupti quos dolores et quas molestias excepturi sint occaecati cupiditate non provident, similique sunt in culpa qui officia deserunt mollitia animi. Nemo enim ipsam voluptatem quia voluptas sit aspernatur aut odit aut fugit.




Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Barbara Palson
3 days agoLorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Daniel Adams
2 days ago