Từ 1/7/2026: Vị trí việc làm viên chức được sắp xếp lại theo khung thống nhất toàn quốc

▶Mục lục bài viết

Nguyên tắc xuyên suốt: không "đẻ" thêm vị trí việc làm mới

Điểm mấu chốt của Nghị định này là siết chặt nguyên tắc xác định vị trí việc làm, tránh tình trạng các đơn vị tùy tiện phát sinh thêm chức danh. Theo đó, việc xác định vị trí việc làm phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức thực tế của từng đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phải khớp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành. Mỗi vị trí việc làm chỉ được xác lập trên cơ sở một nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng, không được tách nhỏ tùy tiện.

Một quy định đáng chú ý là việc cụ thể hóa nội dung công việc theo lĩnh vực chuyên môn, phạm vi công tác hay đối tượng phục vụ chỉ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, tuyệt đối không được dùng để đổi tên gọi vị trí việc làm hay tạo ra vị trí việc làm mới. Tương tự, khi công việc phát triển, mở rộng về phạm vi hay độ phức tạp, sự thay đổi đó phải được phản ánh qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, chứ không phải là cái cớ để "đẻ" thêm vị trí mới.

Đối với các vị trí quản lý, nguyên tắc "một chức danh, một vị trí việc làm" được áp dụng nghiêm ngặt. Ngay cả khi một đơn vị có từ hai cấp phó trở lên, việc phân công phụ trách từng lĩnh vực cụ thể cũng không được làm phát sinh vị trí việc làm mới hay thay đổi tên gọi đã có. Mỗi vị trí quản lý phải gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc hỗ trợ tương ứng, làm cơ sở xác định nhiệm vụ, yêu cầu năng lực và chế độ chính sách cho viên chức.

Ba danh mục và bốn tiêu chí phân định chuyên môn hay hỗ trợ

Nghị định chia danh mục vị trí việc làm viên chức thành ba phụ lục: Phụ lục I về vị trí việc làm quản lý, Phụ lục II về vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ, và Phụ lục III về vị trí việc làm hỗ trợ. Nguyên tắc chung là mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có nội dung chuyên môn cơ bản tương đồng sẽ được xác lập thành một vị trí việc làm riêng, và các đơn vị không được tự ý thêm vị trí ngoài danh mục khung, không được đổi tên, chia tách hay gộp các vị trí đã quy định.

Trường hợp một vị trí việc làm có thể xếp vào cả hai danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ, nghị định đưa ra bốn tiêu chí để cơ quan có thẩm quyền quyết định. Thứ nhất là mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị: vị trí thực hiện trực tiếp nhiệm vụ chuyên môn thì xếp là chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí phục vụ quản lý, điều hành thì xếp là hỗ trợ. Thứ hai là tính chất sản phẩm đầu ra: sản phẩm chuyên ngành có giá trị độc lập là chuyên môn, nghiệp vụ; sản phẩm phục vụ nội bộ là hỗ trợ. Thứ ba là yêu cầu về năng lực chuyên ngành: đòi hỏi kiến thức sâu, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp là chuyên môn, nghiệp vụ; kiến thức dùng chung là hỗ trợ. Thứ tư là vai trò trong quy trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ công cốt lõi của đơn vị. Nếu pháp luật chuyên ngành đã có quy định riêng về danh mục vị trí việc làm cho lĩnh vực đó, thì áp dụng theo pháp luật chuyên ngành.

Năm bậc nghề nghiệp, thống nhất áp dụng cả nước

Một nội dung mới đáng chú ý khác là việc chia bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm thành 5 bậc, từ bậc 1 (thấp nhất) đến bậc 5 (cao nhất), áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc theo danh mục tại Phụ lục II và III. Mỗi đơn vị sự nghiệp công lập, tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, sẽ tự xác định số bậc thực tế áp dụng cho từng vị trí việc làm của mình, nhưng không được vượt quá số bậc tối đa mà nghị định đã quy định.

Năm bậc nghề nghiệp thống nhất trên toàn quốc

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ

Viên chức sẽ được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và nhiệm vụ được giao, và bậc nghề nghiệp này gắn trực tiếp với việc xếp lương tương ứng. Đáng lưu ý, việc thay đổi bậc nghề nghiệp của một viên chức không đồng nghĩa với việc thay đổi vị trí việc làm mà người đó đang đảm nhiệm. Hai khái niệm này được tách bạch rõ ràng để tránh nhầm lẫn trong thực tiễn quản lý.

Về lương, trong thời gian chưa áp dụng chế độ tiền lương mới, viên chức tuyển dụng theo Luật Viên chức vẫn áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ (Bảng 3) theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, với cách quy đổi cụ thể như sau: bậc 1 tương ứng lương viên chức loại B, bậc 2 tương ứng loại A0, bậc 3 tương ứng loại A1, bậc 4 tương ứng loại A2 nhóm 1 (A2.1), và bậc 5 tương ứng loại A3 nhóm 1 (A3.1). Riêng viên chức giữ vị trí quản lý sẽ được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí chuyên môn, nghiệp vụ hoặc hỗ trợ đang giữ, cộng thêm phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý theo quy định hiện hành.

Giới hạn tỷ lệ viên chức ở bậc cao, tránh "lạm phát" bậc lương

Để kiểm soát việc bố trí bậc nghề nghiệp một cách hợp lý, tránh tình trạng dồn quá nhiều viên chức vào các bậc cao gây áp lực lên quỹ lương, nghị định đặt ra tỷ lệ trần cụ thể theo từng trường hợp. Nếu vị trí việc làm có bậc cao nhất là bậc 5, thì tỷ lệ viên chức ở bậc 5 không được vượt quá 30% tổng biên chế được giao cho vị trí đó, còn tỷ lệ ở bậc liền kề thấp hơn không vượt quá 40%; các bậc còn lại do đơn vị tự xác định. Nếu vị trí có bậc cao nhất là bậc 4, tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng biên chế. Còn với vị trí chỉ sử dụng 2 bậc, tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.

Tuy nhiên, nghị định cũng có cơ chế linh hoạt cho một số loại hình đơn vị đặc thù. Các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên, hoặc là tổ chức khoa học và công nghệ công lập, được quyền tự quyết định tỷ lệ bố trí bậc nghề nghiệp khác với tỷ lệ chung, miễn phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị. Quy định về tỷ lệ này cũng không áp dụng đối với các vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.

Một điểm đáng lưu ý trong khâu thực thi là nếu số lượng viên chức ở một bậc nào đó chưa đạt đủ tỷ lệ quy định, phần còn thiếu sẽ không được tự động dồn hay cộng sang các bậc thấp hơn, dù liền kề hay không liền kề. Thay vào đó, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm sẽ phải chủ động điều chỉnh lại tỷ lệ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ thực tế của đơn vị.

Ý nghĩa đối với hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập

Nhìn chung, Nghị định 232/2026/NĐ-CP thiết lập một khung pháp lý chặt chẽ và thống nhất hơn cho việc xác định vị trí việc làm viên chức, vốn là cơ sở trực tiếp để tuyển dụng, bố trí công việc, xếp lương và thực hiện các chế độ chính sách khác. Bằng việc quy định rõ nguyên tắc không phát sinh vị trí mới, chuẩn hóa ba danh mục vị trí việc làm, thiết lập hệ thống 5 bậc nghề nghiệp áp dụng toàn quốc và giới hạn tỷ lệ viên chức ở các bậc cao, nghị định hướng tới mục tiêu kiểm soát tốt hơn quy mô biên chế, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong quản lý nhân sự khu vực sự nghiệp công lập, đồng thời vẫn dành khoảng linh hoạt nhất định cho các đơn vị có tính chất đặc thù hoặc khả năng tự chủ tài chính cao.

Vịnh Nghi

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm