10 điểm mới đáng chú ý của Luật Hòa giải ở cơ sở 2026
▶Mục lục bài viết
1. Hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên đồng ý
Điều 23 của luật mới quy định rất rõ: dù vụ việc được khởi phát từ yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, từ việc hòa giải viên chủ động phát hiện và đề xuất khi chứng kiến hoặc biết vụ việc, hay theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, thì tất cả các căn cứ này đều phải đi kèm điều kiện tiên quyết là sự đồng ý của các bên. Nói cách khác, không có chuyện hòa giải được áp đặt một chiều, dù người đề xuất là ai.
Đây là một bước siết chặt rõ rệt so với Điều 16 Luật năm 2013 - luật cũ chỉ liệt kê các căn cứ tiến hành hòa giải (một bên yêu cầu, hòa giải viên biết vụ việc, hoặc theo phân công/đề nghị) mà không đặt ra yêu cầu đồng thuận chung áp dụng cho mọi trường hợp. Để củng cố thêm nguyên tắc này, điểm b khoản 1 Điều 22 của luật mới còn trao cho các bên một loạt quyền chủ động trong suốt quá trình: quyền đồng ý tham gia, quyền từ chối ngay từ đầu, quyền yêu cầu tạm dừng giữa chừng, và quyền yêu cầu chấm dứt hòa giải bất cứ lúc nào nếu cảm thấy không phù hợp. Về bản chất, thay đổi này khẳng định tính tự nguyện là sợi chỉ xuyên suốt của thiết chế hòa giải ở cơ sở, tránh tình trạng hòa giải viên hoặc các bên thứ ba can thiệp quá sâu vào ý chí của người trong cuộc.

Hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên đồng ý
Nguồn: Báo Quân đôi Nhân dân
2. Mở đường cho hòa giải trực tuyến và kết hợp trực tiếp - trực tuyến
Khoản 1 Điều 26 Luật 2026 chính thức ghi nhận ba hình thức tiến hành hòa giải: trực tiếp, trực tuyến, hoặc kết hợp cả hai. Đây là thay đổi mang tính bước ngoặt so với khoản 1 Điều 21 Luật năm 2013, vốn chỉ cho phép hòa giải trực tiếp bằng lời nói, với sự hiện diện vật lý của các bên - hoàn toàn chưa tính đến khả năng hòa giải từ xa qua nền tảng công nghệ.
Không chỉ mở rộng hình thức, luật mới còn trao thêm quyền chủ động cho các bên. Theo điểm a khoản 1 Điều 22, các bên được lựa chọn và đề xuất hình thức, địa điểm lẫn thời gian hòa giải - trong khi luật cũ chỉ cho phép chọn hòa giải viên, địa điểm và thời gian, chưa đề cập đến quyền lựa chọn hình thức tổ chức. Sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên: nó gắn liền với chủ trương chuyển đổi số được thể hiện xuyên suốt trong luật, cụ thể là khoản 5 Điều 6 khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin và trang bị phương tiện kỹ thuật cho công tác hòa giải, còn khoản 10 Điều 12 quy định hòa giải viên sẽ được hỗ trợ khi ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Về lâu dài, quy định này giúp việc hòa giải trở nên linh hoạt hơn, đặc biệt hữu ích với các bên ở xa nhau về địa lý hoặc trong những tình huống cần xử lý nhanh mà không thể tập hợp trực tiếp.
3. Siết chặt quy định về bảo mật, cấm tự ý ghi âm, ghi hình
Điều 5 của luật mới dành hẳn một điều khoản riêng, chi tiết cho vấn đề bảo mật thông tin trong hòa giải - điều mà luật cũ gần như bỏ ngỏ. Theo khoản 2 Điều 5, trong quá trình hòa giải, người tham gia chỉ được ghi chép phục vụ cho công việc hòa giải và phải bảo mật nội dung đã ghi; việc ghi âm, ghi hình bị cấm hoàn toàn, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác cho phép.
Phạm vi thông tin cần được bảo mật cũng được quy định rất cụ thể, bao gồm: bí mật nhà nước, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh của các bên, và các thông tin khác theo quy định pháp luật. Đáng chú ý, trách nhiệm bảo mật này không chỉ đặt lên vai hòa giải viên mà áp dụng cho tất cả các chủ thể liên quan: các bên tranh chấp, người được mời tham gia, người phiên dịch, và cả cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác. Nếu vi phạm quy định về bảo mật, ghi âm hoặc ghi hình trái phép, chủ thể vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật, căn cứ khoản 3 Điều 5.
So với khoản 3 Điều 4 Luật năm 2013 - vốn chỉ dừng ở nguyên tắc chung là giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, chưa đi vào chi tiết về ghi âm, ghi hình, bí mật kinh doanh hay trách nhiệm của từng nhóm chủ thể - thì quy định mới rõ ràng chặt chẽ và bao quát hơn nhiều, đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ quyền riêng tư trong bối cảnh thiết bị ghi âm, ghi hình ngày càng phổ biến.
4. Bổ sung tiêu chuẩn chặt chẽ hơn đối với hòa giải viên
Điều 8 Luật 2026 vẫn giữ các tiêu chuẩn nền tảng quen thuộc: là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt và uy tín trong cộng đồng, có khả năng thuyết phục và vận động Nhân dân, cùng với sự hiểu biết pháp luật cần thiết. Tuy nhiên, điểm mới nằm ở việc luật bổ sung thêm hàng loạt điều kiện loại trừ mang tính ràng buộc pháp lý cao hơn: người muốn làm hòa giải viên không được đang trong thời hạn xử lý hoặc thi hành quyết định kỷ luật; không đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; và không đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.
Một chi tiết nhỏ nhưng đáng lưu ý là luật mới thay điều kiện "thường trú tại cơ sở" bằng "cư trú tại cơ sở" - một sự nới lỏng giúp mở rộng nguồn nhân lực tiềm năng, không giới hạn ở người có hộ khẩu thường trú mà bao gồm cả người đang sinh sống, cư trú thực tế tại địa bàn. Ngoài ra, theo điểm b khoản 1 Điều 14, nếu một hòa giải viên trong quá trình công tác không còn đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn nào tại Điều 8, người đó sẽ đương nhiên thôi giữ vai trò hòa giải viên. So với Điều 7 Luật năm 2013 - chỉ yêu cầu công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia, có phẩm chất đạo đức và hiểu biết pháp luật - quy định mới rõ ràng nâng cao "hàng rào" đầu vào lẫn cơ chế giám sát trong suốt quá trình hoạt động của hòa giải viên.
5. Cho phép biểu quyết trực tuyến khi bầu hòa giải viên
Khoản 2 Điều 9 bổ sung hình thức biểu quyết trực tuyến bên cạnh các cách làm truyền thống. Theo đó, Trưởng ban công tác Mặt trận sẽ chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố để tổ chức bầu hòa giải viên tại thôn, tổ dân phố hoặc từng cụm dân cư, bằng một hoặc kết hợp nhiều hình thức: biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện hộ gia đình, phát phiếu lấy ý kiến đại diện hộ gia đình, và biểu quyết trực tuyến.
Về điều kiện trúng cử, người được đề nghị công nhận phải đạt trên 50% tổng số đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Nếu số người đạt yêu cầu nhiều hơn số hòa giải viên cần có, danh sách sẽ được lập theo thứ tự kết quả bầu từ cao xuống thấp để chọn ra số lượng phù hợp. Trường hợp chưa bảo đảm đủ thành phần hoặc số lượng hòa giải viên cần thiết, địa phương phải tổ chức bầu bổ sung; còn nếu tất cả người trong danh sách đều không đạt tỷ lệ trên 50%, phải tổ chức bầu lại theo quy trình tại khoản 4 và khoản 5 Điều 9.
So với khoản 2 Điều 8 Luật năm 2013 - chỉ cho phép biểu quyết tại cuộc họp hoặc phát phiếu lấy ý kiến hộ gia đình, chưa có khái niệm biểu quyết trực tuyến, chưa cho kết hợp linh hoạt nhiều hình thức và chưa tính đến việc tổ chức bầu theo từng cụm dân cư nhỏ - quy định mới rõ ràng linh hoạt và phù hợp hơn với thực tế phân bố dân cư cũng như xu hướng số hóa hiện nay.

Cho phép biểu quyết trực tuyến khi bầu hòa giải viên
Nguồn: Uvote
6. Bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên trong trường hợp đặc biệt
Đây có thể coi là điểm hoàn toàn mới, chưa từng xuất hiện trong luật 2013. Điều 10 Luật 2026 quy định cơ chế chỉ định hòa giải viên áp dụng cho những tình huống không thể kiện toàn tổ hòa giải bằng con đường bầu cử thông thường, cụ thể là khi: đã tổ chức bầu bổ sung hoặc bầu lại nhưng vẫn không bảo đảm đủ thành phần, số lượng hòa giải viên cần thiết; tất cả người trong danh sách đều không đạt tỷ lệ trên 50% số đại diện hộ gia đình đồng ý; hoặc không thể tổ chức bầu do gặp sự kiện bất khả kháng.
Người được xem xét chỉ định vẫn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tại Điều 8, phải tự nguyện tham gia, và không thuộc diện đã từng được đưa ra bầu nhưng không đạt tỷ lệ đồng ý trước đó. Về quy trình, Trưởng ban công tác Mặt trận sẽ chủ trì, phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để lựa chọn người đủ điều kiện và giới thiệu; trên cơ sở danh sách này, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ ra quyết định công nhận theo Điều 11. Đáng chú ý, cơ chế chỉ định này không mang tính vĩnh viễn: trong thời hạn 3 năm kể từ ngày ban hành quyết định công nhận người được chỉ định, Trưởng ban công tác Mặt trận vẫn phải tổ chức bầu hòa giải viên theo thủ tục thông thường, nhằm đảm bảo tính đại diện và dân chủ về lâu dài. Luật năm 2013 hoàn toàn không có quy định tương tự, mà chỉ dừng ở việc ứng cử, giới thiệu, bầu, công nhận và bầu bổ sung nếu chưa đủ người.
7. Hòa giải viên được quyền đề nghị Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự
Khoản 9 Điều 12 bổ sung một quyền mới rất thiết thực cho hòa giải viên: được đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã bảo đảm an ninh, trật tự khi tiến hành hòa giải, trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật có nguy cơ dẫn đến hành vi bạo lực, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của chính hòa giải viên, các bên tranh chấp hoặc những người khác tham gia hòa giải, hoặc gây mất trật tự công cộng.
Về thủ tục, nếu hòa giải viên trực tiếp đề nghị UBND hoặc Công an cấp xã hỗ trợ, họ phải kịp thời thông báo lại cho Tổ trưởng tổ hòa giải để nắm tình hình. Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 13, hòa giải viên còn có trách nhiệm phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa nguy cơ bạo lực, mất trật tự ngay từ sớm, chứ không chỉ chờ đến khi sự việc xảy ra mới xử lý. So với khoản 4 Điều 10 Luật năm 2013 - chỉ yêu cầu hòa giải viên thông báo cho Tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo lên Chủ tịch UBND cấp xã có biện pháp phòng ngừa, chưa cho phép hòa giải viên trực tiếp đề nghị lực lượng công an vào cuộc và cũng chưa xác định rõ phạm vi bảo vệ - quy định mới rút ngắn quy trình, trao quyền chủ động và bảo vệ tốt hơn cho những người trực tiếp tham gia hòa giải trong các tình huống có nguy cơ căng thẳng, xung đột leo thang.
8. Người được mời trực tiếp tham gia hòa giải được hưởng thù lao
Các điều 19, 20 và 21 của luật mới mở rộng và làm rõ vai trò của "người được mời tham gia hòa giải" có thể là già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo; người có uy tín trong cộng đồng; người biết rõ vụ việc; hoặc người có trình độ pháp lý, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, xã hội, kể cả đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan.
Điểm đáng chú ý là luật phân định rõ hai vai trò khác nhau của nhóm người này. Theo khoản 2 Điều 19, họ có thể chỉ đóng vai trò tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên từ bên ngoài, hoặc trực tiếp cùng hòa giải viên tham gia vào quá trình hòa giải nhưng việc trực tiếp tham gia bắt buộc phải được các bên đồng ý hoặc thống nhất mời, đồng thời người được mời không được thay thế vai trò chủ trì vốn thuộc về hòa giải viên. Về quyền lợi, khoản 2 Điều 20 quy định rõ: người trực tiếp tham gia hòa giải sẽ được hưởng thù lao theo từng vụ việc cụ thể, và được hỗ trợ, tạo điều kiện khắc phục hậu quả nếu không may gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong quá trình tham gia. Trong khi đó, Điều 19 Luật năm 2013 tuy đã cho phép mời người có uy tín, kiến thức hoặc biết rõ vụ việc, nhưng chưa phân biệt rạch ròi giữa hoạt động tư vấn và trực tiếp tham gia, cũng chưa quy định đầy đủ quyền, nghĩa vụ, và hoàn toàn chưa có chế độ thù lao, đây là khoảng trống mà luật mới đã lấp đầy.
9. Kết quả hòa giải có thể được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu
Theo khoản 1 Điều 29, kết quả hòa giải có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể. Điểm mới quan trọng là luật chính thức công nhận: nếu kết quả hòa giải được thể hiện dưới hình thức thông điệp dữ liệu, đáp ứng quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, thì sẽ được coi là hình thức văn bản - mở đường cho việc số hóa toàn bộ quy trình ghi nhận kết quả hòa giải.
Luật cũng quy định chi tiết hơn về nội dung bắt buộc của văn bản hòa giải. Nếu một trong các bên đồng ý, hòa giải viên phải lập văn bản, trong đó phải nêu rõ căn cứ tiến hành hòa giải, thành phần tham gia, nội dung vụ việc, diễn biến và kết quả hòa giải. Với trường hợp hòa giải thành, văn bản phải ghi rõ thỏa thuận đạt được, giải pháp thực hiện, quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng bên, cùng phương thức và thời hạn thực hiện. Với trường hợp hòa giải không thành, văn bản phải ghi lại ý kiến, quan điểm của các bên và những nội dung liên quan khác. Về hình thức, văn bản phải có chữ ký, điểm chỉ hoặc xác nhận của các bên, hòa giải viên và người tham gia; nếu có người không ký, không điểm chỉ hoặc không xác nhận, hòa giải viên buộc phải ghi rõ lý do. So với luật 2013 chỉ cho phép các bên thỏa thuận lập văn bản khi hòa giải thành, chưa quy định việc lập văn bản cho trường hợp không thành và chưa công nhận thông điệp dữ liệu là một hình thức văn bản hợp lệ. Đây là bước tiến đáng kể theo hướng số hóa và minh bạch hóa quy trình.
10. Các bên được quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành
Điểm g khoản 1 Điều 22 cùng khoản 2 Điều 30 của luật mới chính thức ghi nhận quyền của các bên được yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành, theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự. Đây là một sự khẳng định rõ ràng về giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ở cơ sở, giúp các bên có thêm công cụ bảo đảm thỏa thuận được thực thi trên thực tế nếu cần thiết.
Song song với quyền này, khoản 1 Điều 30 cũng đặt ra nghĩa vụ: các bên phải thực hiện đúng thỏa thuận đã đạt được trong quá trình hòa giải thành. Nếu một bên không thể thực hiện do gặp sự kiện bất khả kháng, do lỗi của bên kia, hoặc rơi vào các trường hợp khác theo quy định, thì bên đó phải chủ động trao đổi, thỏa thuận lại với bên còn lại và đồng thời thông báo cho hòa giải viên biết để có hướng xử lý phù hợp. So với Điều 25 Luật năm 2013 chỉ quy định trách nhiệm thực hiện thỏa thuận và trường hợp không thể thực hiện do sự kiện bất khả kháng, hoàn toàn chưa đề cập đến quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, cũng như chưa tính đến tình huống một bên không thực hiện được do lỗi của bên kia - quy định mới bao quát và bảo vệ quyền lợi của các bên tốt hơn, đặc biệt trong những vụ việc phức tạp, tiềm ẩn rủi ro tranh chấp kéo dài.
So với luật năm 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở 2026 thể hiện rõ ba định hướng lớn: hiện đại hóa quy trình theo hướng ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số (hòa giải trực tuyến, bầu trực tuyến, thông điệp dữ liệu); chuyên nghiệp hóa và siết chặt tiêu chuẩn, trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên cũng như những người tham gia; và bảo vệ quyền lợi của các bên trong tranh chấp lẫn người trực tiếp tham gia hòa giải, từ quyền tự quyết trong suốt quá trình cho đến giá trị pháp lý của kết quả cuối cùng. Đây được xem là bước hoàn thiện cần thiết để thiết chế hòa giải ở cơ sở vốn gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng dân cư tiếp tục phát huy vai trò giải quyết tranh chấp nhanh, gọn, tiết kiệm chi phí, đồng thời thích ứng tốt hơn với bối cảnh xã hội hiện đại.
Vịnh Nghi
Tìm kiếm
Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Barbara Palson
3 days agoLorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Daniel Adams
2 days ago