Đặt cọc và trả trước khác nhau thế nào khi giao kết hợp đồng?

▶Mục lục bài viết

Đặt cọc và trả trước đều có thể bắt đầu bằng việc giao tiền, nhưng mục đích và hậu quả pháp lý khác nhau. Đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng; trả trước là thanh toán trước một phần hoặc toàn bộ khoản phải trả. Không thể chỉ nhìn thời điểm chuyển tiền để kết luận đó là tiền cọc, rồi mặc nhiên áp dụng mất cọc hoặc trả gấp đôi.

Đặt cọc khác trả trước ở điểm nào?

Đặt cọc có mục đích bảo đảm

Khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, đặt cọc không chỉ xuất hiện trước khi ký hợp đồng. Các bên cũng có thể đặt cọc để bảo đảm thực hiện một hợp đồng đã giao kết.

Với khoản trả trước thuần túy, mục đích là thực hiện sớm nghĩa vụ thanh toán, không phải dùng tài sản làm bảo đảm theo Điều 328. Chẳng hạn, bên mua thanh toán trước một phần giá hàng, phần còn lại trả khi nhận hàng. Đây là cách mô tả chức năng của khoản tiền, không phải một định nghĩa riêng về trả trước tại Điều 328.

Tên gọi chưa đủ để xác định bản chất

Giấy nhận tiền ghi “cọc”, nhưng nội dung chỉ thể hiện thanh toán đợt đầu, có thể gây tranh luận. Ngược lại, một khoản ghi “ứng trước” nhưng kèm cam kết bảo đảm và cách xử lý khi từ chối giao kết cũng cần được xem xét toàn bộ. Không nên kết luận bản chất khoản tiền chỉ bằng một dòng nội dung chuyển khoản.

Điều 404 quy định khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, việc giải thích phải xét cả ý chí thể hiện trong quá trình trước, tại thời điểm xác lập và thực hiện hợp đồng. Các điều khoản cũng phải được đặt trong mối liên hệ với nhau. Vì vậy, nên lưu thỏa thuận, tin nhắn xác nhận, biên nhận và chứng từ chuyển tiền để đối chiếu mục đích giao tiền.

Điều 328 quy định xử lý tiền cọc thế nào?

Khi hợp đồng được giao kết, thực hiện

Theo khoản 2 Điều 328, nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tiền cọc vì thế có thể trở thành khoản được khấu trừ vào giá phải thanh toán. Việc khấu trừ sau đó không làm mất đi chức năng bảo đảm của khoản tiền lúc ban đầu.

Khi một bên từ chối giao kết, thực hiện

Cũng theo khoản 2 Điều 328, nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc. Nếu bên nhận cọc từ chối, bên này phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Quy định có ngoại lệ ngay trong điều luật: “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Với cọc bằng tiền, cách nói “trả gấp đôi” thường dùng để chỉ tổng tiền hoàn trả và khoản tương đương giá trị cọc. Đó không phải cách diễn đạt đầy đủ cho mọi loại tài sản cọc. Quan trọng hơn, không thể suy từ việc hợp đồng không ký được sang kết luận một bên đương nhiên mất cọc hoặc phải trả thêm tiền.

Cần xác định nghĩa vụ nào được bảo đảm, thời hạn thực hiện, hành vi của từng bên và thỏa thuận xử lý cọc. Chậm hoàn tất một việc có phải là từ chối giao kết, thực hiện hay không còn phải xem nội dung cam kết và diễn biến cụ thể. Bài viết chỉ trình bày cơ chế tại Điều 328, không đưa ra kết luận cho mọi nguyên nhân giao dịch không thành.

Trả trước có đương nhiên bị mất khi không ký hợp đồng?

Nếu đã xác định khoản tiền chỉ là trả trước, không phải đặt cọc, thì không thể tự động áp dụng cơ chế mất cọc của Điều 328. Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa bên giao tiền luôn được nhận lại ngay toàn bộ trong mọi tình huống. Phải xem hợp đồng đã hình thành chưa, các bên đã thực hiện đến đâu và căn cứ xử lý khoản tiền là gì.

Phạt vi phạm là vấn đề riêng. Khoản 1 Điều 418 quy định đây là thỏa thuận theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Vì thế, cần phân biệt nghĩa vụ hoàn trả tiền trả trước với khoản phạt theo thỏa thuận; không gọi mọi khoản bị giữ lại là “mất cọc”. Yêu cầu bồi thường cũng cần căn cứ riêng, không thể suy ra chỉ từ việc đã chuyển tiền.

Hiệu lực giao dịch cần được xem xét trước khi tính phạt cọc

Điều 117 yêu cầu chủ thể có năng lực phù hợp, tham gia hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Hình thức cũng là điều kiện có hiệu lực khi luật quy định. Có biên nhận và chứng từ chuyển tiền không đồng nghĩa mọi điều kiện này đã được đáp ứng.

Nếu giao dịch bị xác định vô hiệu, khoản 2 Điều 131 đặt ra nguyên tắc khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận; không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền. Khoản 4 quy định bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Đây là cơ chế khác với xử lý việc từ chối giao kết, thực hiện một thỏa thuận đặt cọc có hiệu lực.

Nên ghi gì trước khi giao tiền?

Các bên nên xác nhận rõ khoản giao là đặt cọc hay trả trước. Với đặt cọc, cần ghi hợp đồng được bảo đảm, số tiền hoặc tài sản, thời hạn và nghĩa vụ của mỗi bên. Nếu cùng một lần chuyển gồm cả tiền cọc lẫn tiền trả trước, nên tách rõ giá trị từng khoản, tránh để một con số chung rồi giải thích khác nhau khi phát sinh bất đồng.

Thỏa thuận nên nêu thời điểm trừ cọc vào giá thanh toán, cách hoàn trả và cách xử lý khi không tiếp tục giao dịch. Với trả trước, cần làm rõ lịch thanh toán, công việc hoặc hàng hóa tương ứng và cách quyết toán. Khi có thay đổi, nên xác nhận lại bằng văn bản thay vì chỉ trao đổi miệng. Phân biệt đúng mục đích ngay lúc giao tiền giúp các bên biết mình đang thanh toán hay đang nhận một ràng buộc bảo đảm.

Hai bên trao đổi nội dung thỏa thuận trước khi giao tiền đặt cọc.
Hình minh họa: FindLaw Asia.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Nexi

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm