Tổng hợp 08 bản án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết tranh chấp
Mục lục bài viết
Findlaw Asia giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 08 BẢN ÁN ÁP DỤNG TƯƠNG TỰ PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của Findlaw Asia sưu tầm, tổng hợp.
|
STT |
NỘI DUNG VỤ ÁN |
|
1 |
Tên: Bản án số 488/2019/DS-ST Đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số: 488/2019/DS-ST Nội dung vụ việc: Bà Nguyễn Thị U là người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00430 do UBND huyện H cấp ngày 26/7/2011. Do tin tưởng, bà U giao cho con trai là ông Mai Hoàng T giữ giấy tờ này từ năm 2012. Khi bà U yêu cầu trả lại, ông T không đồng ý, cho rằng muốn gìn giữ tài sản gia đình và chỉ trả nếu bà U chia cho ông 2/3 giá trị nhà đất. Bà U khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại Giấy chứng nhận nêu trên. Ông T thừa nhận đang giữ giấy tờ, nhưng không đồng ý trả nếu không được chia tài sản. Luật sư bảo vệ cho bà U khẳng định Giấy chứng nhận thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà U nên yêu cầu buộc ông T hoàn trả. Đại diện Viện kiểm sát nhận định Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định tố tụng, các đương sự có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đồng thời đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xác định tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Căn cứ vào việc ông T thừa nhận đang giữ Giấy chứng nhận mang tên bà U, Tòa án xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà U theo Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015. Lý do ông T giữ lại vì “gìn giữ tài sản gia đình” là không có cơ sở pháp luật. Do đó, Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị U, buộc ông Mai Hoàng T phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00430 do UBND huyện H cấp cho bà U ngày 26/7/2011. Ông Mai Hoàng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, bà U được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Các bên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyết định của Tòa: Áp dụng: - Khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 45; Điều 147; Điều 273; Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; - Điều 166 Bộ Luật dân sự năm 2015; - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Buộc ông Mai Hoàng Tú trả cho bà Nguyễn Thị U Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00430 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 26/7/2011 cho bà Nguyễn Thị U ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị U, ông Mai Hoàng T không trả lại cho bà Út Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 00430 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 26/7/2011 cho bà Nguyễn Thị U thì bà Nguyễn Thị U có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận nêu trên. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Mai Hoàng T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). - Hoàn tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) cho bà Nguyễn Thị U theo biên lai thu tiền số AA/2018/0004700 ngày 21/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Xem và tải tại đây: Bản án số 488/2019/DS-ST |
|
2 |
Tên: Bản án số 25/2019/DS-ST Tranh chấp hợp đồng góp hụi Số: 25/2019/DS-ST Nội dung vụ việc: Bà Võ Thị Tuyết T1 khởi kiện yêu cầu bà Mai Thị C và anh Trần Quốc T2 – là chủ hụi, đầu thảo – hoàn trả số tiền 18.600.000 đồng mà bà đã góp trong 01 dây hụi tháng và 03 dây hụi tuần mở trong các năm 2017–2018. Các dây hụi đều là hụi hoa hồng, có lãi, bà T1 tham gia mỗi dây 01 phần và đã góp đầy đủ cho đến khi bà C tuyên bố “vỡ hụi” và ngưng khui vào ngày 02/10/2018 âm lịch. Bà T1 và chồng là ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu hai bị đơn hoàn trả số tiền đã góp, không yêu cầu tính lãi. Quyết định của Tòa: Căn cứ vào khoản 1 Điều 351, Điều 471 của Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 2 Điều 10, khoản 3 Điều 15, khoản 8 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ- CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, bêu, phường; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Tuyết T1: - Buộc bà Mai Thị C và anh Trần Quốc T2 cùng có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Tuyết T1 và ông Nguyễn Văn T3 số tiền 18.600.000 (tám triệu sáu trăm nghìn) đồng. - Kể từ ngày người được thi hành án bà Võ Thị Tuyết T1 và ông Nguyễn Văn T3 có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền 18.600.000 (tám triệu sáu trăm nghìn) đồng thì người phải thi hành án bà Mai Thị C và anh Trần Quốc T2 còn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: - Buộc bà Mai Thị C và anh Trần Quốc T2 phải nộp án phí số tiền 930.000 (chín trăm ba mươi nghìn) đồng. - Hoàn trả cho bà Võ Thị Tuyết T1 được nhận lại số tiền 465.000 (bốn trăm sáu mươi lăm) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0011419 ngày 05 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình. - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. 3. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt bà Võ Thị Tuyết T1 là nguyên đơn. Vắng mặt bà Mai Thị C, anh Trần Quốc T2 là bị đơn, ông Nguyễn Văn T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bà T1 có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bà C, anh T2, ông T3 vắng mặt thì thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Xem và tải tại đây: Bản án số 25/2019/DS-ST |
|
3 |
Tên: Bản án số 04/2020/DS-ST ngày 28/5/2021 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Số: 04/2020/DS-ST Nội dung vụ việc: Anh Đinh Hồng V và chị Nguyễn Thị Thanh H kết hôn năm 2009, có hai con chung. Trong quá trình hôn nhân, chị H ngoại tình và sinh cháu Đinh Tùng L, người không có quan hệ huyết thống với anh V. Tuy nhiên, anh V vẫn nuôi dưỡng cháu L từ khi sinh (tháng 12/2015) đến tháng 3/2020, tổng cộng 51 tháng. Sau khi ly hôn, anh V yêu cầu chị H bồi thường chi phí nuôi dưỡng cháu L, tiền công chăm sóc và khoản bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền 121.000.000 đồng. Chị H thừa nhận cháu L không phải con anh V nhưng cho rằng anh V biết rõ và vẫn tự nguyện nuôi con “làm phúc”, nên không đồng ý bồi thường. Quyết định của Tòa: Áp dụng: Điều 3; Điều 6; Khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 592 Bộ luật dân sự 2015; Điều 43; Khoản 2, 3 Điều 45; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Hồng V (V). Buộc chị Nguyễn Thị Thanh H phải thanh toán (bồi thường) tiền cho anh Đinh Hồng V các khoản tiền sau: 1/Tiền chi phí nuôi dưỡng cháu Đinh Tùng L với thời gian 51 tháng x 1.050.000 đồng/tháng = 53.550.000 đồng (không bao gồm tiền công chăm sóc). 2/Tiền tổn thất tinh thần cho anh Đinh Hồng V bằng 08 tháng lương cơ bản x 1.490.000 đồng = 11.920.000 đồng. 3/Tiền chi phí khi sinh là 6.000.000 đồng. 4/Tiền công chăm sóc 500.000đ/tháng x với thời gian 51 tháng =25.500.000 đồng. Tổng cộng mục 1+2+3+4 = 96.970.000 đồng (chín mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi ngàn đồng). Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người có nghĩa vụ nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải trả tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 4.848.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh Đinh Hồng V số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo phiếu thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0001605 ngày 07/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba. Xem và tải tại đây: Bản án số 04/2020/DS-ST |
|
4 |
Tên: Bản án số 886/2019/LĐ-PT Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Số: 886/2019/LĐ-PT Nội dung vụ việc: Ông Trần Viết H khởi kiện cho rằng Công ty N đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Theo trình bày của ông H, sau thời gian thử việc 2 tháng (03/8–02/10/2017), ông vẫn tiếp tục làm việc và được đề nghị thăng chức, tăng lương lên 75 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, khi ông H yêu cầu ký hợp đồng lao động chính thức thì Công ty không đồng ý, gửi “Thỏa thuận chấm dứt hợp đồng” và sau đó ra Thông báo số 03/2017/CV-KNE ngày 03/11/2017 yêu cầu ông nghỉ việc từ 12 giờ ngày 04/11/2017. Ông H cho rằng đây là hành vi chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, yêu cầu Công ty bồi thường tiền lương, bảo hiểm, phép năm và các khoản liên quan, tổng cộng hơn 1,18 tỷ đồng, nhưng không yêu cầu được nhận lại làm việc. Quyết định của Tòa: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 5, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 15, 17, 23, 26, 27, 28, 29 của Bộ luật lao động; Căn cứ vào Điều 394 của Bộ luật dân sự; Căn cứ Luật phí, lệ phí và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm số 32/2018/LĐ-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Viết H về việc: - Yêu cầu tuyên bố Công ty N đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Viết H là trái pháp luật. - Các yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty N phải thanh toán cho ông Trần Viết H tiền bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2017 đến ngày xét xử phúc thẩm, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 05 tháng 11 năm 2017 đến ngày xét xử phúc thẩm, tiền lương tháng thứ 13 và tiền phép năm tính đến ngày xét xử phúc thẩm. 2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của Công ty N đối với ông Trần Viết H về việc yêu cầu bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật số tiền 136.000.000 đồng 3. Án phí lao động sơ thẩm: - Ông Trần Viết H được miễn án phí lao động sơ thẩm. - Hoàn lại Công ty N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.040.000 (Hai triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0026225 ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Án phí lao động phúc thẩm: - Ông Trần Viết H được miễn án phí lao động phúc thẩm. - Công ty N không phải chịu tiền án phí lao động phúc thẩm. Hoàn lại Công ty N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0026431 ngày 13 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay kể từ ngày tuyên án. Xem và tải tại đây: Bản án số 886/2019/LĐ-PT |
|
5 |
Tên: Bản án số 07/2019/DS-PT Về tranh hợp đồng góp vốn Số: 07/2019/DS-PT Nội dung vụ việc: Vụ án xuất phát từ việc ông Phan Đăng T và bà Nguyễn Thị Bích N khởi kiện vợ chồng bà Nguyễn Thị Phương M, ông Trần Vinh S về tranh chấp hợp đồng góp vốn làm trang trại tại xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Theo nguyên đơn, hai bên đã ký biên bản góp vốn ngày 05/7/2000 để cùng mua ba thửa đất tổng diện tích 12.454 m², mỗi bên góp 50% vốn và cùng chia lợi nhuận, rủi ro. Ông T đã giao cho ông S 70 triệu đồng, trong đó 60 triệu mua một nửa trang trại và 10 triệu để đầu tư cải tạo. Sau đó, ông T – bà N tiếp tục đầu tư thêm khoảng 40 triệu đồng vào việc mở rộng, xây dựng và trồng cây. Tuy nhiên, năm 2010, vợ chồng bà M – ông S đã bán toàn bộ trang trại với giá 2,4 tỷ đồng mà không thông báo hay chia phần cho ông T, bà N, dẫn đến tranh chấp. Quyết định của Tòa: 1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Phương M; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2018/DS-ST, ngày 18-10- 2018 của Tòa án nhân dân huyện L. 2. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 131, Điều 133, Điều 136, Điều 139, Điều 146 Bộ luật dân sự năm 1995. Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 37 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29-3-1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Căn cứ Nghị quyết số:02/2004/NQ-HĐTP, ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Biên bản góp vốn mua đất làm trang trại trồng trọt chăn nuôi gia súc ngày 05- 7-2000 đã ký giữa bà Nguyễn Thị Phương M, ông Trần Vinh S và ông Phan Đăng T, bà Nguyễn Thị Bích N là vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị Phương M, ông Trần Vinh S phải hoàn trả cho ông Phan Đăng T và bà Nguyễn Thị Bích N số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng tiền góp vốn ban đầu; 779.200.000 (bảy trăm bảy mươi chín triệu hai trăm nghìn) đồng là thiệt hại do hợp đồng vô hiệu; tổng cộng 849.200.000 (tám trăm bốn mười chín triệu hai trăm nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả khoản tiền trên cho người được thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự. 3. Về án phí: Ông Phan Đăng T và bà Nguyễn Thị Bích N không phải nộp án phí. Trả lại cho ông Phan Đăng T và bà Nguyễn Thị Bích N số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 02209 ngày 06-11-2012 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Hòa Bình. Miễn nộp án phí sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Phương M và ông Trần Vinh S. Miễn nộp án phí phúc thẩm cho bị đơn kháng cáo Nguyễn Thị Phương M . Về chi phí giám định: Ông Trần Vinh S và bà Nguyễn Thị Phương M phải nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng chi phí giám định chữ ký. Xác nhận ông Trần Vinh S và bà Nguyễn Thị Phương M đã nộp đủ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 26-04-2019. Xem và tải tại đây: Bản án số 07/2019/DS-PT |
|
6 |
Tên: Bản án số 305/2019/DS-PT Về tranh chấp quyền sử dụng đất Số: 305/2019/DS-PT Nội dung vụ việc: Vụ án phát sinh từ việc ông Nguyễn Hữu B khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích đất 4.891m² thuộc các thửa 551–557, tờ bản đồ số 6 xã L1, huyện ĐT (nay là phường L1, quận A2, TP. A), cho rằng đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Trần Văn A – bà Võ Thị LL từ năm 1996 bằng “Tờ giao kèo sang nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp” và các giấy nhận cọc vàng. Ông B khẳng định đã thanh toán, nhận đất, sử dụng ổn định, có nộp thuế và dựng nhà trên đất. Sau khi khu đất được thu hồi để thực hiện dự án khu dân cư L1, ông yêu cầu được công nhận quyền sử dụng, được bồi thường, đồng thời yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế năm 2010 và hợp đồng ủy quyền liên quan đến diện tích đất này. Quyết định của Tòa: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử: 1. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu BB, sửa bản án sơ thẩm số 45/2018/DS-ST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân Quận A2 , Thành phố A về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. 1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu BB. - Công nhận ông Nguyễn Hữu B có quyền sử dụng phần đất có diện tích 4.891m2 thuộc thửa 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, Tờ bản đồ số 06 xã L1 , huyện Đ0 nay thuộc phường L1 , Quận A2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố A lập ngày 29/12/2014; Phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A459741, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 696/QSDĐ/QĐ do Ủy ban nhân dân huyện ĐT, Thành phố A cấp cho ông Trần Văn A ngày 22/02/1993. - Ông Nguyễn Hữu B được quyền liên hệ với Công ty Cổ phần L1 để thỏa thuận giá bồi thường, nhận bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của pháp luật. - Hủy văn một phần Văn bản phân chia tài sản thừa kế số do các đồng thừa kế của ông A và bà LL xác lập tại Văn phòng công chứng Đ0 ngày 06/01/2012, giữa các ông, bà Trần A5 , Trần Thị H5 , Trần Văn 2Đ, Trần E, Trần Văn Phương, Trần Thị 1H, Trần VA. Cụ thể hủy phần thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế đối với quyền sử dụng phần đất có diện tích 4.891m2 thuộc thửa 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, Tờ bản đồ số 06 xã L1 , huyện Đ0 nay thuộc phường L1 , Quận A2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố A lập ngày 29/12/2014; Phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A459741, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 696/QSDĐ/QĐ do Ủy ban nhân dân huyện ĐT, Thành phố A cấp cho ông Trần Văn A ngày 22/02/1993. - Hủy một phần hợp đồng ủy quyền số 9316 giữa ông Trần VA và ông Phạm Minh Đ1 được lập tại Văn phòng Công chứng Đ0 ngày 29/10/2012 đối với phần đất có diện tích 4.891m2 thuộc thửa 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, Tờ bản đồ số 06 xã L1 , huyện Đ0 nay thuộc phường L1 , Quận A2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố A lập ngày 29/12/2014; Phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A459741, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 696/QSDĐ/QĐ do Ủy ban nhân dân huyện ĐT, Thành phố A cấp cho ông Trần Văn A ngày 22/02/1993. - Tách tranh chấp đối với giao dịch giữa ông Nguyễn Hữu B và ông Hồ Ngọc H4 theo Tờ giao kèo sang nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp ngày 17/6/1996 ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu. - Tách tranh chấp về số tiền Công ty Cổ phần L1 đã bồi thường cho ông Trần VA đối với phần đất 4.891m2 thuộc thửa 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, Tờ bản đồ số 06 xã L1 , huyện Đ0 nay thuộc phường L1 , Quận A2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố A lập ngày 29/12/2014; Phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A459741, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 696/QSDĐ/QĐ do Ủy ban nhân dân huyện ĐT, Thành phố A cấp cho ông Trần Văn A ngày 22/02/1993 ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu. 2. Đình chỉ giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu của bị đơn về việc đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu và hủy bỏ Tờ giao kèo sang nhượng quyền sử đụng đất nông nghiệp ngày 17/6/1996 và 03 giấy nhận cọc xác lập cùng ngày 11/6/1996, liên quan đến phần đất diện tích 4.891m2 thuộc thửa 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, Tờ bản đồ số 06 xã L1 , huyện ĐT. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm. 3.1. Ông Trần VA phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). 3.2. Ông Nguyễn Hữu B không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông B 5.000.000 đồng (7N triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AG/2011/03680 ngày 25/10/2013 của Chi cục thi hành án dân sự Quận A2, Thành phố A. 4. Về án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Hữu B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả lại cho ông B 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2017/0015434 ngày 02/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A2 , Thành phố A . 5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem và tải tại đây: Bản án số 305/2019/DS-PT |
|
7 |
Tên: Bản án số 39/2018/DS-PT Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, yêu cầu hủy GCNQSDĐ Số: 39/2018/DS-PT Nội dung vụ việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nông Thị P (nguyên đơn, vợ ông Hoàng Văn C – đã mất) và ông Hoàng Văn B (bị đơn, em trai ông C) phát sinh từ năm 2014 tại thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất tranh chấp là 545,7m², nằm trong thửa đất số 62, tờ bản đồ số 57, đã được UBND huyện Cao Lộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) năm 2000 cho hộ ông Hoàng Văn B. Quyết định của Tòa: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2018/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể: Về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: 1. Bà Nông Thị P được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất tranh chấp là 117,2m2 đất tại Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất trên nằm trong diện tích đất hộ ông Hoàng Văn B đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00021/QSDĐ/672/QĐ-UB ngày 31/12/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C. Trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 59,7m2 thuộc quyền sở hữu của gia đình bà Nông Thị P. Diện tích đất trên như sau: - Phía Bắc giáp đất hộ ông Hoàng Văn B, dài 5,2m, được xác định từ điểm 11 đến điểm 12; - Phía Tây giáp đất hộ ông Hoàng Văn B và lối đi chung, dài 22,3m, được xác định là một đường thẳng nối từ điểm 7 đến điểm 12. - Phía Đông giáp đất hộ ông Hoàng Văn B, dài 22,5m được xác định là một đường thẳng nối từ điểm 8 đến điểm 11; - Phía Nam giáp đất hộ ông Hoàng Văn B dài 5,2m, được xác định từ điểm 7 đến điểm 8; 2. Hộ ông Hoàng Văn B được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất tranh chấp là 428,5m2 tại Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 57, bản đồ địa chính xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00021/QSDĐ/672/QĐ-UB ngày 31/12/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho người sử dụng đất là hộ ông Hoàng Văn B. Và được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất, gồm có: 18 cây mác mật, 03 cây xoài, 01 cây đu đủ, 02 cây đào, 01 khóm chuối, cùng rau mầu. 3. Ông Hoàng Văn B có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giảm diện tích đất 117,2m2 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00021/QSDĐ/672/QĐ-UB ngày 31/12/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C theo quy định. 4. Ông Hoàng Văn B có nghĩa vụ trả cho bà Nông Thị P trị giá 02 cây đào với số tiền là 832.000 đồng (tám trăm ba mươi hai nghìn đồng). 5. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nông Thị P về hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00021/QSDĐ/672/QĐ-UB ngày 31/12/2000 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông Hoàng Văn B đối với diện tích đất 545,7m2. 6. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Nông Thị P về diện tích lối đi chung 17,1m2, tại Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. 7. Ông Hoàng Văn B và gia đình không được có hành vi cản trở gia đình bà Nông Thị P thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với diện tích được giao 117,2m2 như nêu trên Về án phí: 1. Án phí dân sự sơ thẩm: - Bà Nông Thị P phải chịu số tiền 6.170.000 đồng (sáu triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. Được khấu trừ vào số tiền 8.750.000 đồng bà Nông Thị P đã nộp theo Biên lai thu số: 01446 ngày 01/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao lộc, tỉnh Lạng Sơn. Hoàn trả cho bà Nông Thị Phấn số tiền còn lại 2.580.000 đồng (hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). - Ông Hoàng Văn B phải chịu số tiền 2.894.000 đồng (hai triệu tám trăm chín mươi tư nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. 2. Án phí dân sự phúc thẩm: - Bà Nông Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm để sung quỹ Nhà nước. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nông Thị P đã nộp tại Biên lai thu số: 05149 ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao lộc, tỉnh Lạng Sơn. Bà Nông Thị P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm. - Ông Hoàng Văn B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm để sung quỹ Nhà nước. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Hoàng Văn B đã nộp tại Biên lai thu số: 04139 ngày 17/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Ông Hoàng Văn B đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm. Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Tổng số tiền đã chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 4.700.000 đồng; Bà Nông Thị P phải chịu số tiền là 3.690.000 đồng; ông Hoàng Văn B phải chịu số tiền là 1.010.000 đồng. Xác nhận bà Nông Thị P đã nộp tạm ứng số tiền 2.500.000 đồng, ông Hoàng Văn B đã nộp số tiền 2.200.000 đồng. Buộc bà Nông Thị P phải hoàn trả cho ông Hoàng Văn B số tiền là 1.190.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) . Kể từ ngày ông Hoàng Văn B, bà Nông Thị P có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền được quyết định tại Mục III và điểm 4 Mục II nêu trên, nếu người phải thi hành chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem và tải tại đây: Bản án số 39/2018/DS-PT |
|
8 |
Tên: Bản án số 137/2021/DS-PT Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Số: 137/2021/DS-PT Nội dung vụ việc: Bà Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu bà Đỗ Thị Thu S trả lại “giấy nợ” đề ngày 29-7-2020, ghi nhận việc bà Đ vay của bà S 400.000.000 đồng. Bà Đ cho rằng đã trả đủ tiền gốc và lãi cho bà S trong cùng ngày, nhưng bà S không trả lại giấy nợ, đồng thời còn yêu cầu thêm 10.000.000 đồng tiền lãi mới giao giấy. Do lo ngại bà S sẽ dùng giấy nợ khởi kiện đòi tiền, bà Đ yêu cầu Tòa buộc bà S trả lại giấy nợ và bồi thường 9.000.000 đồng chi phí đi lại, mất thu nhập. Bà S thừa nhận có cho vay nhưng không nhớ rõ số tiền và cho rằng bà Đ chưa trả nợ, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Quyết định của Tòa: Căn cứ Điều 192, 217, 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự; 1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2021/DS - ST ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh và Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “tranh chấp khác về dân sự và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” giữa bà Trần Thị Đ đối với bà Đỗ Thị Thu S. 2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem và tải tại đây: Bản án số 137/2021/DS-PT |
Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác.
3 Comments
At vero eos et accusamus et iusto odio dignissimos ducimus qui blanditiis praesentium voluptatum deleniti atque corrupti quos dolores et quas molestias excepturi sint occaecati cupiditate non provident, similique sunt in culpa qui officia deserunt mollitia animi. Nemo enim ipsam voluptatem quia voluptas sit aspernatur aut odit aut fugit.





Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Barbara Palson
3 days agoLorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat cumque nihil impedit quo minus. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate.
Daniel Adams
2 days ago