Nghị định 335/2026/NĐ-CP: Mức trợ giúp xã hội 540.000 đồng được áp dụng thế nào?

▶Mục lục bài viết

Nghị định số 335/2026/NĐ-CP nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng mỗi tháng. Đây là mức dùng để tính trợ cấp hằng tháng và nhiều khoản hỗ trợ khác, không phải số tiền cố định mà mọi người đều nhận. Mức thực tế bằng 540.000 đồng nhân với hệ số của từng nhóm. Nghị định được Chính phủ ban hành ngày 21/8/2026, có hiệu lực từ 5/10/2026; riêng việc chuyển mức cho người đang hưởng được thực hiện từ 1/7/2026.

Mức chuẩn 540.000 đồng có ý nghĩa gì?

Điều 4 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP xác định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Con số này là căn cứ tính trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc hoặc nuôi dưỡng, chế độ tại cơ sở trợ giúp xã hội và các khoản trợ giúp khác. Vì vậy, khi đọc quy định, người dân cần xem đồng thời mức chuẩn và hệ số áp dụng cho trường hợp của mình. So với mức 500.000 đồng trước đó, mức chuẩn tăng 40.000 đồng, tương đương 8%. Tuy nhiên, khoản tăng thực nhận có thể lớn hơn 40.000 đồng vì còn được nhân với hệ số. Chẳng hạn, hệ số 1,5 tương ứng 810.000 đồng/tháng; hệ số 2,0 tương ứng 1.080.000 đồng/tháng; hệ số 2,5 tương ứng 1.350.000 đồng/tháng; hệ số 3,0 tương ứng 1.620.000 đồng/tháng. Địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội bảo đảm có thể áp dụng mức cao hơn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức chuẩn, mức trợ giúp cao hơn hoặc bổ sung nhóm khó khăn khác tại địa phương. Do đó, 540.000 đồng là mức chuẩn theo Nghị định, còn số tiền tại một tỉnh, thành cụ thể có thể cao hơn nếu địa phương đã ban hành chính sách riêng.

Những nhóm nào được hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng?

Điều 5 liệt kê tám nhóm chính. Nhóm thứ nhất là trẻ em dưới 16 tuổi rơi vào các hoàn cảnh đặc biệt, như bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi; cha hoặc mẹ mất tích; hoặc cha mẹ đang ở cơ sở trợ giúp xã hội, chấp hành án phạt tù hay quyết định đưa vào cơ sở bắt buộc theo những tổ hợp điều kiện được quy định cụ thể. Người thuộc nhóm này đã đủ 16 tuổi vẫn có thể tiếp tục hưởng nếu đang học phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc đại học văn bằng thứ nhất, quá trình học liên tục và chưa kết thúc khóa học. Quy định cũng bao gồm trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo. Các nhóm còn lại gồm người đơn thân thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo đang nuôi con; người cao tuổi thuộc hộ nghèo và thiếu người phụng dưỡng theo điều kiện của Nghị định; người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng; trẻ dưới ba tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo tại địa bàn dân tộc thiểu số, miền núi đặc biệt khó khăn; và người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Cơ quan cấp xã còn phải xác thực nơi cư trú, tình trạng hộ nghèo hoặc cận nghèo, mức độ khuyết tật, hoàn cảnh nuôi dưỡng và những dữ liệu liên quan. Người nộp hồ sơ nên đối chiếu đúng khoản, điểm áp dụng cho mình thay vì chỉ dựa vào tên nhóm.

Bảng minh họa mức chuẩn 540.000 đồng nhân với các hệ số trợ giúp xã hội
Mức trợ cấp được tính bằng mức chuẩn nhân hệ số của từng nhóm. Ảnh: FindLaw Asia

Cách tính mức trợ cấp theo hệ số

Trẻ thuộc hoàn cảnh đặc biệt ở nhóm thứ nhất được áp dụng hệ số 2,5 nếu dưới bốn tuổi và 1,5 nếu từ đủ bốn tuổi trở lên. Người đã đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học theo điều kiện nêu trên hưởng hệ số 1,5. Trẻ nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo hưởng hệ số 2,5 khi dưới bốn tuổi và 2,0 khi từ đủ bốn tuổi đến dưới 16 tuổi. Người đơn thân nghèo nuôi con được tính hệ số 1,0 cho mỗi con đang nuôi. Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, thiếu người phụng dưỡng hưởng hệ số 1,5 nếu từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi và 2,0 nếu từ đủ 75 tuổi. Trường hợp đủ điều kiện vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng được áp dụng hệ số 3,0. Đối với người khuyết tật, hệ số phụ thuộc mức độ và độ tuổi. Người khuyết tật đặc biệt nặng hưởng hệ số 2,0; nếu đồng thời là trẻ em hoặc người cao tuổi thì hệ số là 2,5. Người khuyết tật nặng hưởng hệ số 1,5; nếu là trẻ em hoặc người cao tuổi thì hệ số là 2,0. Trẻ dưới ba tuổi tại địa bàn đặc biệt khó khăn và người nhiễm HIV/AIDS thuộc nhóm đủ điều kiện nêu trên áp dụng hệ số 1,5. Nếu một người đồng thời thuộc nhiều diện có hệ số khác nhau, nguyên tắc chung là hưởng một mức cao nhất. Có ngoại lệ đối với người đơn thân nghèo nuôi con khi bản thân họ đồng thời thuộc một số nhóm khác mà Nghị định chỉ rõ. Trường hợp này có thể được hưởng chế độ theo diện nuôi con và chế độ gắn với tình trạng của chính người đó.

Hồ sơ nộp ở đâu và bao lâu được giải quyết?

Người đề nghị trợ cấp xã hội hằng tháng dùng tờ khai theo Mẫu số 01 của Phụ lục kèm Nghị định. Trường hợp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và đề nghị hỗ trợ kinh phí hằng tháng dùng Mẫu số 02. Hồ sơ có thể gửi trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua bưu chính hoặc nộp trực tiếp tại bất kỳ Bộ phận Một cửa nào. Trong bảy ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đề nghị cư trú tổ chức xác thực dữ liệu, thẩm định và quyết định trợ cấp hoặc hỗ trợ. Nếu không đủ điều kiện, cơ quan này phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thời gian hưởng được tính từ tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký quyết định. Người đang hưởng chế độ không phải tự suy đoán mức mới rồi yêu cầu điều chỉnh bằng một bộ hồ sơ mới. Nghị định giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát danh sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng từ 1/7/2026. Hồ sơ đã được tiếp nhận trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng chưa có quyết định tiếp tục được xử lý theo quy định chuyển tiếp; người dân không phải nộp lại hồ sơ hoặc làm lại giấy tờ.

Người dân nên kiểm tra gì trước khi nộp hồ sơ?

Trước hết, cần xác định đúng nhóm đối tượng và hệ số, nhất là các điều kiện đi kèm về tuổi, việc học, hộ nghèo, nơi cư trú hoặc mức độ khuyết tật. Tiếp đó, kiểm tra xem địa phương có mức trợ giúp cao hơn mức chung hay không. Khi nộp trực tuyến, nên lưu mã hồ sơ; khi nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính, nên giữ phiếu tiếp nhận và chứng từ gửi. Nếu hồ sơ bị từ chối, người nộp có quyền yêu cầu văn bản nêu lý do để biết thiếu thông tin hay không đáp ứng điều kiện nào. Các phép tính trong bài chỉ minh họa theo mức chuẩn chung. Số tiền được quyết định còn phụ thuộc hồ sơ, hệ số và chính sách bổ sung của địa phương. Nghị định số 335/2026/NĐ-CP tạo ra một cách tính dễ kiểm tra: mức chuẩn 540.000 đồng nhân với hệ số. Điểm cần lưu ý nhất là phân biệt ngày hiệu lực 5/10/2026 với mốc chuyển mức từ 1/7/2026 dành cho người đang hưởng. Người chuẩn bị hồ sơ mới nên dùng đúng biểu mẫu, chọn một trong ba kênh nộp và theo dõi thời hạn bảy ngày làm việc.

Thông tin trong bài viết chỉ mang tính tham khảo; người đọc nên tham vấn luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cho trường hợp cụ thể.

Phước Hiếu

Thêm Findlaw Asia trên Google

ArrowTìm kiếm